Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu bắt nguồn từ sự gia tăng nồng độ các loại khí nhà kính trong khí quyển, đặc biệt là khí carbonic ($\text{CO}_2$), đang là thách thức môi trường lớn trên quy mô quốc tế. Các nhà khoa học ước tính nếu lượng phát thải không được kiểm soát, nhiệt độ trung bình của Trái Đất có thể gia tăng từ 1,5°C đến 4,5°C vào năm 2050. Hệ sinh thái rừng đóng vai trò then chốt như một bể chứa $\text{CO}_2$ tự nhiên thông qua quá trình quang hợp, có khả năng cố định khoảng 100 tỷ tấn $\text{CO}_2$ từ khí quyển mỗi năm, góp phần cân bằng lượng dưỡng khí và điều hòa vi khí hậu. Khả năng hấp thụ $\text{CO}_2$ của rừng phụ thuộc chặt chẽ vào kiểu rừng, trạng thái sinh trưởng, cấp tuổi và loài cây.

Tại Việt Nam, cây Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lamb) là loài cây gỗ lớn bản địa và nhập nội có khả năng sinh trưởng tốt trên các vùng đồi núi thoái hóa, đất nghèo dinh dưỡng thuộc các tỉnh vùng núi phía Bắc như Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng. Tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Thông mã vĩ là đối tượng cây trồng lâm nghiệp chủ lực. Tuy nhiên, trong thực tiễn sản xuất, giá trị của loài cây này chủ yếu mới được nhìn nhận ở góc độ kinh tế thông qua việc khai thác gỗ gia dụng, gỗ trụ mỏ và trích nhựa (nhựa Thông mã vĩ chứa 30% - 35% tinh dầu và khoảng 60% colophan; gỗ chứa khoảng 62% xenlulozo). Giá trị môi trường, cụ thể là năng suất sinh khối và khả năng hấp thụ, tích lũy các bon của lâm phần Thông mã vĩ thuần loài tại địa phương, chưa được điều tra và lượng hóa chi tiết bằng phương pháp thực nghiệm để làm cơ sở tính toán giá trị dịch vụ môi trường rừng theo Cơ chế Phát triển Sạch (CDM).

Xuất phát từ thực tế đó, đề tài khóa luận tập trung giải quyết hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu được sinh khối lâm phần Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lamb) tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
  2. Nghiên cứu được khả năng tích lũy các bon lâm phần Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lamb) tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Rừng trồng Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lamb) thuần loài ở cấp tuổi 9, hiện đang trong giai đoạn sinh trưởng bình thường và chưa qua tác động của các biện pháp kỹ thuật tỉa thưa.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại địa bàn xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn (nằm trong tọa độ địa lý từ 21°46′ đến 21°77′ vĩ độ Bắc và từ 106°56′ đến 106°94′ kinh độ Đông; độ cao trung bình 400 - 450 m so với mực nước biển).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu điều tra thực địa và phân tích mẫu vật được tiến hành từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở lý thuyết sinh thái học rừng và chu trình sinh địa hóa các bon. Thực vật hấp thụ khí $\text{CO}2$ tự do trong không khí qua quá trình quang hợp để chuyển hóa thành các hợp chất hữu cơ cấu tạo nên tế bào và mô thực vật, tích lũy dưới dạng sinh khối ở các cơ quan sinh dưỡng (thân, cành, lá, rễ). Sinh khối là chỉ tiêu sinh học phản ánh trực tiếp năng suất sinh học sơ cấp và khả năng cố định các bon của hệ sinh thái rừng. Nghiên cứu tiếp cận khung pháp lý và chính sách của Cơ chế Phát triển Sạch (Clean Development Mechanism - CDM) theo Điều 12 Nghị định thư Kyoto và Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC 1992), cùng hướng dẫn kỹ thuật của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC 2003) về việc xác định trữ lượng các bon quy đổi theo công thức: $$W_C = C \times DW{\text{Trên mặt đất}}$$ Trong đó, hệ số chuyển đổi các bon mặc định được áp dụng là $C = 0,5$ trên tổng sinh khối khô kiệt ($DW$).

Về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập số liệu:

  • Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn: Bố trí 9 ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời với diện tích $500\text{ m}^2$ ($20\text{ m} \times 25\text{ m}$) trên các điều kiện lập địa đại diện cho 3 dạng địa hình điển hình gồm chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi.
  • Đo đếm nhân tố điều tra lâm phần: Đo đường kính ngang ngực tại vị trí 1,3 m ($D_{1.3}$) cho toàn bộ cây trong ô tiêu chuẩn; đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) bằng thước sào chuyên dụng (sai số $\pm 10\text{ cm}$); đo đường kính tán ($Dt$) theo hai hướng trực giao Đông - Tây và Nam - Bắc bằng thước dây.
  • Phương pháp giải đoán cây mẫu theo cấp kính: Cây rừng trong lâm phần được phân chia thành 3 cấp kính dựa trên nguyên tắc tổng tiết diện ngang ($G$) bằng nhau. Chọn và chặt ngả 27 cây tiêu chuẩn (mỗi cấp kính chọn 9 cây đại diện). Đo chiều dài thân cây, đo đường kính có vỏ và không vỏ tại các vị trí mặt cắt 0,0 m; 1,0 m; 1,3 m; 2,0 m; 3,0 m... đến ngọn cây. Phân tách cây thành 4 bộ phận độc lập: thân cây, cành cây, lá cây và rễ cây (đào toàn bộ hệ rễ có đường kính $> 2\text{ mm}$), cân xác định khối lượng tươi của từng bộ phận ngay tại hiện trường.
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích sinh khối khô: Mỗi bộ phận của cây tiêu chuẩn lấy mẫu $0,5\text{ kg}$ (thân cây cưa 3 thớt tại gốc, giữa và ngọn rồi cắt lấy mảnh hình rẻ quạt từ tâm ra vỏ; cành lấy mẫu đại diện; lá gom trộn đều non và già; rễ băm nhỏ trộn đều). Mẫu được sấy trong tủ sấy phòng thí nghiệm ở nhiệt độ $105^\circ\text{C}$ trong thời gian từ 10 đến 12 giờ đến khi trọng lượng mẫu không đổi qua 4 lần cân liên tiếp để xác định tỷ lệ chất khô ($P_k$).
  • Phương pháp điều tra tầng cây bụi, thảm tươi và thảm mục: Tại mỗi OTC thiết lập 5 ô thứ cấp diện tích $25\text{ m}^2$ ($5\text{ m} \times 5\text{ m}$) tại 4 góc và 1 tâm ô để thu gom, cân khối lượng tươi của thân, cành, lá cây bụi, thảm tươi và lấy mẫu $0,5\text{ kg}$ sấy khô; đồng thời lập 5 ô dạng bản $1\text{ m}^2$ ở tâm các ô thứ cấp để thu gom toàn bộ thảm mục, cân khối lượng tươi và lấy mẫu $0,2\text{ kg}$ xác định khối lượng khô.
  • Phương pháp mô hình hóa và xử lý số liệu: Số liệu được xử lý thống kê toán học lâm nghiệp, thiết lập mối quan hệ tương quan hồi quy giữa sinh khối các bộ phận ($W_t, W_k$) với biến tổng hợp $D_{1.3}^2 \times H_{vn}$ thông qua 5 dạng phương trình (Tuyến tính, Đa thức, Logarit, Mũ và Lũy thừa/Power), trong đó chọn lựa hàm có hệ số xác định ($R^2$) cao nhất, sai số chuẩn ($Std.E$) thấp nhất và kiểm định mức ý nghĩa thống kê ($Sig < 0,05$).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh phát thải khí nhà kính toàn cầu và các cam kết giảm phát thải theo cơ chế CDM. Phân tích vai trò của rừng trồng Thông mã vĩ tại Lạng Sơn và đặt ra vấn đề cần chuyển từ khai thác lâm sản truyền thống sang quản trị đa mục tiêu có kết hợp lượng giá dịch vụ môi trường rừng. Xác lập 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 2 nội dung ý nghĩa khoa học và thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch, kinh doanh rừng trồng địa phương.

Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng kết có hệ thống cơ sở lý luận về quá trình cố định các bon của thực vật, các mốc phát triển phương pháp luận nghiên cứu sinh khối trên thế giới từ nghiên cứu của Liebig (1840), chương trình IBP (1964), MAB (1971), Cannell (1981) đến phương pháp cây mẫu của Newbould (1967). Lược khảo các nghiên cứu các bon rừng trồng tại Trung Quốc, Ireland, Indonesia, Philippines, Thái Lan. Tổng hợp các công trình nghiên cứu sinh khối và các bon tại Việt Nam của Ngô Đình Quế (2005), Đặng Thịnh Triều (2008, 2010), Võ Đại Hải (2009), Vũ Tấn Phương (2010), Nguyễn Trung Kiên (2010), Nguyễn Thanh Tiến (2012). Đồng thời, chương này mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, địa hình đồi núi độ cao 400 - 450 m, khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng cao (nhiệt độ trung bình 21,1°C, lượng mưa trung bình 1349 mm, độ ẩm 82%), điều kiện thổ nhưỡng (đất đỏ vàng trên đá sét pH 4,5 - 5,5) và hiện trạng kinh tế - xã hội của xã Hữu Khánh với dân số 2837 người (chủ yếu là dân tộc Tày, Nùng).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết tiêu chí lựa chọn đối tượng khảo sát là rừng Thông mã vĩ 9 tuổi thuần loài chưa tỉa thưa. Quy chuẩn hóa quy trình điều tra 9 ô tiêu chuẩn $500\text{ m}^2$, kỹ thuật chặt hạ và phân tích 27 cây tiêu chuẩn theo 3 cấp đường kính, phương pháp bố trí ô thứ cấp $25\text{ m}^2$ điều tra cây bụi thảm tươi và ô dạng bản $1\text{ m}^2$ điều tra thảm mục. Thiết lập hệ thống công thức toán học tính tỷ lệ sinh khối khô ($P_k$), sinh khối bộ phận ($W_{ki}$), sinh khối lâm phần và công thức quy đổi trữ lượng các bon của IPCC (2003).

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này trình bày toàn bộ kết quả định lượng thu thập từ thực địa và phòng thí nghiệm:

  • Thống kê chỉ tiêu sinh trưởng của 27 cây tiêu chuẩn chặt ngả: Phân tích sự biến thiên của đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn, tiết diện ngang và thể tích thân cây theo 3 cấp kính I, II, III.
  • Sinh khối tươi và khô của cây cá thể Thông mã vĩ: Định lượng cấu trúc 4 bộ phận (thân, cành, lá, rễ), phân tích tỷ lệ phần trăm đóng góp của từng bộ phận trong sinh khối toàn cây.
  • Sinh khối tầng cây gỗ trên 9 lâm phần nghiên cứu: Xác định năng suất sinh khối tươi và khô trên một hecta theo mật độ cây đứng thực tế (1880 - 2360 cây/ha).
  • Xây dựng hệ phương trình tương quan hồi quy giữa sinh khối (tươi, khô) từng bộ phận và toàn cây với tổ hợp biến số $D_{1.3}^2 \times H_{vn}$.
  • Đánh giá sinh khối của tầng cây bụi, thảm tươi và thảm mục theo 3 vị trí địa hình (chân, sườn, đỉnh đồi).
  • Tổng hợp toàn bộ cấu trúc sinh khối tươi và sinh khối khô của lâm phần Thông mã vĩ tại khu vực nghiên cứu.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các kết quả đạt được về các chỉ số sinh trưởng, cấu trúc phân bố sinh khối giữa các cơ quan cây và giữa các tầng thực vật, độ chính xác của các mô hình toán học đã xây dựng. Đưa ra các khuyến nghị ứng dụng mô hình tương quan vào công tác điều tra nhanh trữ lượng sinh khối và các bon, đề xuất định hướng kỹ thuật lâm sinh quản lý lập địa và mật độ rừng Thông mã vĩ 9 tuổi nhằm nâng cao năng suất sinh khối và giá trị môi trường.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về cấu trúc sinh thái và định lượng sinh khối rừng trồng Thông mã vĩ 9 tuổi tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

Bảng 1: Chỉ tiêu sinh trưởng trung bình của 27 cây tiêu chuẩn theo cấp kính

Cấp kính $D_{1.3}$ bình quân (cm) $H_{vn}$ bình quân (m) Tiết diện ngang $G$ ($\text{m}^2$) Thể tích thân cây $V$ ($\text{m}^3$)
Cấp I (STT 1 - 9) 7,60 7,20 0,0046 0,0166
Cấp II (STT 10 - 18) 9,70 8,05 0,0075 0,0306
Cấp III (STT 19 - 27) 12,48 9,04 0,0124 0,0566
Bình quân chung 9,93 8,10 0,0082 0,0346

Bảng 2: Cấu trúc sinh khối cây cá thể Thông mã vĩ 9 tuổi

Chỉ tiêu bộ phận Sinh khối tươi trung bình (kg/cây) Tỷ lệ sinh khối tươi (%) Sinh khối khô trung bình (kg/cây) Tỷ lệ sinh khối khô (%)
Thân cây 36,91 58,97 16,09 60,05
Rễ cây 10,59 16,74 4,40 16,27
Cành cây 10,09 15,87 4,26 15,65
Lá cây 5,40 8,42 2,20 8,03
Tổng sinh khối cá thể 62,99 100,00 26,96 100,00

Bảng 3: Tổng hợp cấu trúc sinh khối tươi lâm phần Thông mã vĩ theo vị trí địa hình

Vị trí địa hình Tầng cây cao (tấn/ha) Tỷ lệ (%) Cây bụi, thảm tươi (tấn/ha) Tỷ lệ (%) Thảm mục (tấn/ha) Tỷ lệ (%) Tổng sinh khối tươi (tấn/ha)
Chân đồi 136,89 98,20 2,11 1,51 0,40 0,28 139,40
Sườn đồi 130,59 98,28 1,82 1,37 0,47 0,35 132,88
Đỉnh đồi 130,17 98,79 1,13 0,86 0,46 0,35 131,76
Bình quân chung 132,55 98,42 1,69 1,25 0,44 0,33 134,68

Bảng 4: Phương trình tương quan hồi quy giữa sinh khối ($W_t, W_k$) với biến $D_{1.3}^2 \times H_{vn}$

Bộ phận Dạng phương trình sinh khối tươi ($W_t$) $R^2$ Dạng phương trình sinh khối khô ($W_k$) $R^2$
Thân cây $W_t = 15,235 \times (D^2 H)^{1,120}$ 0,981 $W_k = 38,606 \times (D^2 H)^{1,120}$ 0,981
Cành cây $W_t = 103,849 \times (D^2 H)^{0,925}$ 0,954 $W_k = 230,715 \times (D^2 H)^{0,925}$ 0,954
Lá cây $\ln(W_t) = \ln(287,974) + 0,178 \times (D^2 H)$ 0,974 $\ln(W_k) = \ln(287,974) + 0,435 \times (D^2 H)$ 0,974
Rễ cây $W_t = 67,684 \times (D^2 H)^{1,085}$ 0,982 $W_k = 175,221 \times (D^2 H)^{1,085}$ 0,982
Toàn cây $W_t = 9,043 \times (D^2 H)^{1,102}$ 0,983 $W_k = 22,945 \times (D^2 H)^{1,103}$ 0,983

Các kết quả định lượng bổ sung từ nghiên cứu:

  • Mật độ lâm phần khảo sát dao động từ 1880 đến 2360 cây/ha, bình quân đạt 2104 cây/ha.
  • Sinh khối khô tầng cây gỗ bình quân đạt 56,73 tấn/ha (trong đó thân cây chiếm 34,07 tấn/ha; cành cây chiếm 8,88 tấn/ha; lá cây chiếm 4,55 tấn/ha; rễ cây chiếm 9,23 tấn/ha).
  • Trữ lượng các bon tích lũy trong lâm phần được lượng hóa thông qua hệ số quy đổi $C = 0,5$ từ tổng lượng sinh khối khô trên mặt đất và sinh khối rễ.

Đóng góp của nghiên cứu:

  • Xây dựng được cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về phân bố sinh khối tươi và sinh khối khô của loài Thông mã vĩ 9 tuổi tại khu vực Lộc Bình, Lạng Sơn.
  • Thiết lập hệ thống các mô hình toán học dạng hàm lũy thừa (Power) có độ tin cậy cao ($R^2 > 0,95$), cho phép các đơn vị lâm nghiệp tính toán nhanh sinh khối và tích lũy các bon của cây và lâm phần Thông mã vĩ thông qua phép đo các nhân tố điều tra thông dụng ($D_{1.3}$ và $H_{vn}$) mà không cần chặt hạ cây.
  • Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng và tham gia các dự án phát triển rừng theo cơ chế tín chỉ các bon tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi nghiên cứu mới chỉ tập trung trên một cấp tuổi duy nhất là rừng trồng 9 tuổi thuần loài và giới hạn tại địa bàn một xã (xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn).
  • Lâm phần nghiên cứu chưa qua các biện pháp kỹ thuật lâm sinh (tỉa thưa, nuôi dưỡng) nên chưa phản ánh được động thái biến đổi sinh khối dưới các mật độ nuôi dưỡng khác nhau.
  • Việc tính toán trữ lượng các bon dựa chủ yếu trên hệ số chuyển đổi mặc định ($C = 0,5$) của IPCC thay vì phân tích trực tiếp hàm lượng các bon nguyên tố trong từng mẫu mô thực vật tại phòng thí nghiệm chuyên sâu.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sinh khối và khả năng hấp thụ các bon trên nhiều dải cấp tuổi khác nhau (từ giai đoạn rừng non đến thành thục) và trên các lập địa khác nhau tại các tỉnh vùng Đông Bắc.
  • Đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp tỉa thưa, bón phân và các chế độ kinh doanh rừng khác nhau tới khả năng tích lũy sinh khối.
  • Phân tích trực tiếp hàm lượng các bon nguyên tố của từng bộ phận cây, đồng thời điều tra toàn diện bể chứa các bon trong đất lâm nghiệp dưới tán rừng Thông mã vĩ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên và nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học môi trường và Biến đổi khí hậu.
  • Cán bộ kỹ thuật tại các Ban quản lý rừng phòng hộ, Công ty TNHH Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm và các cơ quan quy hoạch lâm nghiệp tại các tỉnh miền núi phía Bắc.

Nội dung đáng tham khảo nhất:

  • Quy trình chuẩn về phương pháp điều tra cây mẫu theo 3 cấp kính để xác định sinh khối thực tế (kỹ thuật cưa thớt thân cây hình rẻ quạt, đào toàn bộ hệ rễ $> 2\text{ mm}$ và quy trình sấy mẫu kiểm tra ở các mốc thời gian 2, 4, 6, 8, 10 giờ tại $105^\circ\text{C}$).
  • Bộ phương trình hồi quy tương quan sinh khối dạng hàm Power ($W = a \times (D^2 H)^b$) với các tham số cụ thể, có thể ứng dụng trực tiếp trong công tác kiểm kê sinh khối và định giá rừng Thông mã vĩ tại các địa bàn có điều kiện lập địa tương đương.

Câu hỏi thường gặp

1. Cấu trúc sinh khối tươi và sinh khối khô của cây cá thể Thông mã vĩ 9 tuổi phân bố giữa các bộ phận như thế nào? Ở cây cá thể Thông mã vĩ 9 tuổi, cấu trúc phân bố sinh khối giảm dần theo thứ tự: Thân cây > Rễ cây > Cành cây > Lá cây. Đối với sinh khối tươi (trung bình 62,99 kg/cây), thân chiếm 58,97% (36,91 kg), rễ chiếm 16,74% (10,59 kg), cành chiếm 15,87% (10,09 kg) và lá chiếm 8,42% (5,40 kg). Đối với sinh khối khô (trung bình 26,96 kg/cây), thân chiếm 60,05% (16,09 kg), rễ chiếm 16,27% (4,40 kg), cành chiếm 15,65% (4,26 kg) và lá chiếm 8,03% (2,20 kg).

2. Tổng sinh khối tươi của lâm phần Thông mã vĩ tại khu vực nghiên cứu đạt bao nhiêu và biến động theo vị trí địa hình ra sao? Tổng sinh khối tươi bình quân toàn lâm phần đạt 134,68 tấn/ha. Năng suất sinh khối có sự phân hóa rõ rệt theo điều kiện lập địa và vị trí địa hình: cao nhất ở vị trí chân đồi với 139,40 tấn/ha; tiếp đến là vị trí sườn đồi với 132,88 tấn/ha; và thấp nhất ở vị trí đỉnh đồi với 131,76 tấn/ha do điều kiện lập địa, độ ẩm và không gian dinh dưỡng ở chân đồi thuận lợi hơn.

3. Tầng cây cao đóng góp bao nhiêu phần trăm trong tổng sinh khối tươi của lâm phần Thông mã vĩ? Tầng cây cao chiếm tỷ trọng áp đảo với 98,42% tổng sinh khối tươi của lâm phần (bình quân đạt 132,55 tấn/ha). Tầng cây bụi, thảm tươi chỉ đóng góp 1,25% (đạt 1,69 tấn/ha) và tầng thảm mục đóng góp 0,33% (đạt 0,44 tấn/ha).

4. Phương trình toán học nào được đánh giá là tối ưu nhất để ước tính sinh khối cây Thông mã vĩ từ nhân tố điều tra? Hàm dạng lũy thừa (Power) với tổ hợp biến $D_{1.3}^2 \times H_{vn}$ là mô hình tối ưu nhất. Phương trình ước tính tổng sinh khối tươi toàn cây là $W_t = 9,043 \times (D^2 H)^{1,102}$ ($R^2 = 0,983; Std.E = 0,077; Sig = 0,00$) và tổng sinh khối khô toàn cây là $W_k = 22,945 \times (D^2 H)^{1,103}$ ($R^2 = 0,983; Std.E = 0,077; Sig = 0,00$).

5. Kỹ thuật lấy mẫu thân cây để xác định sinh khối khô ngoài hiện trường được tác giả tiến hành như thế nào? Tại 3 vị trí gốc, giữa và ngọn của cây tiêu chuẩn chặt ngả, tác giả cưa mỗi vị trí một thớt gỗ có bề dày khoảng 3 cm. Trên mỗi thớt, sử dụng cưa hoặc dao tách lấy một mảnh gỗ hình rẻ quạt chạy từ tâm ra ngoài vỏ tạo thành góc nhọn có đỉnh là tâm lõi gỗ. Ba mảnh gỗ lấy từ 3 vị trí có khối lượng tương đương nhau được gộp lại thành mẫu đại diện có khối lượng tươi 0,5 kg để mang về sấy ở nhiệt độ 105°C.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Diệu Nga đã thực hiện thành công việc định lượng sinh khối và cấu trúc sinh khối của rừng trồng Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lamb) thuần loài 9 tuổi tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn thông qua phương pháp điều tra chặt ngả 27 cây tiêu chuẩn theo 3 cấp kính trên 9 ô tiêu chuẩn tạm thời. Kết quả nghiên cứu chỉ ra tổng sinh khối tươi lâm phần bình quân đạt 134,68 tấn/ha (trong đó tầng cây cao chiếm 98,42%) và sinh khối khô tầng cây gỗ đạt 56,73 tấn/ha, với tỷ trọng tích lũy vật chất hữu cơ tập trung chủ yếu ở phần thân cây (trên 58% sinh khối tươi và trên 60% sinh khối khô). Hệ phương trình tương quan dạng hàm lũy thừa được thiết lập có hệ số xác định cao ($R^2 > 0,95$), cung cấp công cụ toán học tin cậy phục vụ công tác dự báo trữ lượng sinh khối, tính toán khả năng tích lũy các bon và định giá dịch vụ môi trường rừng cho các lâm phần Thông mã vĩ tại vùng Đông Bắc Việt Nam.