Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và ảnh hưởng của kích dục tố đến khả năng sinh sản của cầy vòi hương paradoxurus hermaphroditus pallas 1777 trong điều kiện nuôi nhốt

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học và tác động của kích dục tố đến khả năng sinh sản của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt.

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

124
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: Sơ lược về cầy vòi hương

1.1. Phân loại

1.2. Đặc điểm ngoại hình

1.3. Tập tính và sinh sản

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.2. Chuồng trại, thức ăn, nước uống

2.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt

2.3.2. Chỉ tiêu khảo sát

2.3.3. Phương pháp xác định khối lượng và kích thước các chiều đo

2.3.4. Phương pháp nghiên cứu tốc độ sinh trưởng

2.3.5. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh sản

2.3.6. Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí – sinh hóa máu, nước tiểu của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt

2.3.6.1. Chỉ tiêu khảo sát
2.3.6.2. Phương pháp thu mẫu và phân tích máu

2.3.7. Nghiên cứu sự thay đổi hàm lượng hormone sinh dục của cầy vòi hương cái trong điều kiện nuôi nhốt

2.3.7.1. Chỉ tiêu khảo sát
2.3.7.2. Phương pháp thu mẫu và chiết xuất phân
2.3.7.3. Phương pháp xét nghiệm hormone

2.3.8. Nghiên cứu ảnh hưởng của kích thích tố sinh dục (PMSG, HCG) đến khả năng sinh sản của cầy vòi hương cái

2.3.8.1. Chỉ tiêu khảo sát
2.3.8.2. Loại hormone sinh sản sử dụng
2.3.8.3. Các công thức tiêm hormone sinh sản
2.3.8.4. Bố trí thí nghiệm. Quy trình tiêm
2.3.8.5. Phương pháp xác định sự thay đổi hormone. Xử lí số liệu

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học

3.1.1. Đặc điểm hình thái, dinh dưỡng và một số tập tính của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt

3.1.2. Đặc điểm sinh trưởng của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt

3.1.2.1. Tăng trưởng khối lượng
3.1.2.2. Tăng trưởng chiều dài thân đầu
3.1.2.3. Tăng trưởng chiều dài đuôi
3.1.2.4. Tăng trưởng vòng ngực

3.1.3. Đặc điểm sinh sản của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt

3.1.3.1. Tuổi thành thục sinh dục và biểu hiện động dục. Hoạt động giao phối, tỉ lệ mang thai và thời gian mang thai
3.1.3.2. Số cầy sinh ra trên lứa, tỉ lệ sống sót, đặc điểm con sơ sinh và tuổi cai sữa

3.2. Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí – sinh hóa máu, nước tiểu của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt

3.2.1. Một số chỉ tiêu sinh lí máu của cầy vòi hương theo giới tính

3.2.2. Một số chỉ tiêu sinh lí máu của cầy vòi hương theo tuổi

3.2.3. Các chỉ số sinh hóa máu của cầy vòi hương

3.2.4. Một số chỉ tiêu sinh hóa nước tiểu của cầy vòi hương theo giới tính

3.2.5. Một số chỉ tiêu sinh hóa nước tiểu của cầy vòi hương theo tuổi

3.3. Kết quả nghiên cứu sự thay đổi hàm lượng hormone sinh dục của cầy vòi hương cái trong điều kiện nuôi nhốt

3.3.1. Sự thay đổi hàm lượng estradiol và progesterone trong phân cầy vòi hương không mang thai

3.3.2. Sự thay đổi hàm lượng estradiol và progesterone trong phân cầy vòi hương mang thai

3.3.3. Sự thay đổi hàm lượng estradiol và progesterone trong phân cầy vòi hương mang thai giả

3.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của kích thích tố sinh dục (PMSG, HCG) đến khả năng sinh sản của cầy vòi hương cái

3.4.1. Sự thay đổi hàm lượng estradiol và progesterone sau khi tiêm kích dục tố

3.4.2. Thời gian xuất hiện các biểu hiện và kéo dài động dục

3.4.3. Kết quả sử dụng các công thức hormone lên một số chỉ tiêu sinh sản

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Nghiên cứu về cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus) là rất cần thiết do loài này đang bị đe dọa bởi sự mất môi trường sống và săn bắt. Kích dục tố như PMSG và HCG đã được chứng minh có tác động tích cực đến khả năng sinh sản của nhiều loài động vật. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của các hormone này đến sinh sản của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho công tác bảo tồn và phát triển loài. Đặc biệt, việc tăng cường năng suất sinh sản sẽ giúp bảo tồn nguồn gen và phát triển kinh tế địa phương thông qua chăn nuôi. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu tương tự trên các loài động vật hoang dã khác.

II. Đặc điểm sinh học của cầy vòi hương

Cầy vòi hương có nhiều đặc điểm sinh học đáng chú ý. Về hình thái, chúng có kích thước từ 2 đến 5 kg và chiều dài thân từ 480 đến 700 mm. Hành vi sinh sản của loài này diễn ra quanh năm, với chế độ ăn uống đa dạng bao gồm cả thực vật và động vật. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh lý sinh sản của cầy vòi hương có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường và hormone. Việc hiểu rõ các đặc điểm này sẽ giúp trong việc phát triển các phương pháp nuôi dưỡng và bảo tồn hiệu quả hơn. Đặc biệt, việc nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý và sinh hóa máu sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sức khỏe và khả năng sinh sản của loài này.

III. Ảnh hưởng của kích dục tố đến khả năng sinh sản

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng kích dục tố như PMSG và HCG có tác động tích cực đến khả năng sinh sản của cầy vòi hương cái. Các thí nghiệm cho thấy sự thay đổi hàm lượng hormone sinh dục trong cơ thể cầy vòi hương sau khi tiêm hormone. Kết quả cho thấy rằng việc sử dụng hormone có thể làm tăng tỉ lệ mang thai và số lượng cầy con sinh ra trên mỗi lứa. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc nâng cao hiệu quả chăn nuôi mà còn góp phần vào công tác bảo tồn loài. Việc áp dụng các phương pháp này có thể giúp cải thiện tình trạng sinh sản của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt.

IV. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận án này không chỉ có giá trị trong việc cung cấp thông tin về cầy vòi hương mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực nghiên cứu sinh học và ứng dụng công nghệ sinh học trong chăn nuôi. Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo quý giá cho các nhà khoa học và các cơ sở nghiên cứu khác. Hơn nữa, việc phát triển quy trình kỹ thuật nhân nuôi cầy vòi hương sẽ giúp tăng cường hiệu quả bảo tồn và phát triển nguồn gen, đồng thời tạo ra nguồn thu nhập cho người chăn nuôi. Điều này góp phần vào sự phát triển bền vững của nền nông nghiệp sinh thái tại Việt Nam.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Sơ lược về cầy vòi hương 1. Phân loại Vị trí phân loại của Cầy vòi hương trong hệ thống phân loại động vật [3, 7]: Ngành: Động vật có dây sống (Chordata) Lớp: Thú (Mammalia) Bộ: Ăn thịt (Carnivora) Họ: Cầy (Viverridae) Giống: Paradoxurus Loài: Paradoxurus hermaphroditus Pallas, 1777 Tên đồng nghĩa (Symnonyms): Paradoxurus lignicolor Miller, 1903; Paradoxurus musangus Raffles, 1821; Paradoxurus philippinensis Jourdan, 1837; Viverra hermaphrodita Pallas, 1777 [3], Paradoxurus cochinesis Schwarz, 1911 [7]. Tên thường gọi (Common names): Common Palm Civet, Mentawai Palm Civet.

Tên tiếng Việt: cầy vòi hương, cầy vòi đốm [7]. Đặc điểm ngoại hình Cầy vòi hương trưởng thành nặng khoảng từ 2 đến 5 kg. Chiều dài thân khoảng từ 480 đến 700 mm, đuôi dài từ 400 đến 660 mm. Khuôn mặt dài nhọn đặc trưng của họ cầy.

Các gờ mấu ở xương sọ khá phát triển. Mấu sau mắt dài. Xương trán tương đối bằng. Eo sau mắt thắt nhỏ (nhỏ hơn gian mắt).

Mấu bên xương chẩm dính với mặt sau bầu nhĩ tạo thành đế khá lớn. Răng nhỏ thấp, gờ nhai tù. Răng trước hàm số 1 rất nhỏ, có thể mất. Đế bàn chân lớn, đế bàn chân sau có thùy kéo dài để bám lúc leo trèo.

Khác với cầy hương, tuyến xạ của con đực nằm ngay trước tinh hoàn, lộ ra ngoài; tuyến xạ của cầy vòi hương nằm sâu phía trong mông, phân bố hai bên hậu môn mà không lộ ra ngoài [7, 11]. Cả cầy đực và cái của loài này đều có mùi hương đáy chậu dưới đuôi của chúng. Tuyến này nằm trong một túi dưới da bụng, được sử dụng để phun trong phòng vệ, đánh dấu lãnh thổ và giao tiếp với những cá thể khác của loài [3, 7]. Tập tính và sinh sản Cầy vòi hương chủ yếu sống ở rừng, thường đi đơn.

Sinh hoạt kiếm ăn đêm, ngày ngủ. Vào mùa khan hiếm thức ăn, cầy vòi hương cũng có thể kiếm ăn vào ban ngày. Cầy vòi hương là loài ăn tạp, thức ăn tự nhiên bao gồm cả thực vật (thành phần thức ăn chủ yếu gồm các loại quả chín kỹ, nhằn vỏ, nuốt hạt) lẫn động vật (gồm côn trùng, cua, ốc) chiếm tỷ lệ ít, tuy nhiên loài này thường ăn thực vật nhiều hơn động vật [4, 7]. Cầy vòi hương sinh sản quanh năm và thường tập trung vào các thời điểm tháng 4, 5, 6 và tháng 10, 11, 12.

Mỗi lứa 2 - 4 con [3, 7, 11, 22]. Phân bố Cầy vòi hương phân bố ở các khu vực như Ấn Độ, Nepal, Bangladesh, Bhutan, Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Brunei, Lào, Campuchia, Việt Nam, Trung Quốc, Philippines và các quần đảo Sumatra, Java, Kalimantan, Bawean và Siberut của Indonesia. Chúng được du nhập đến Irian Jaya, quần đảo Sunda, Maluku, Sulawesi và Nhật Bản. Riêng ở Việt Nam, loài này phân bố rộng trên toàn quốc, kể cả ở Côn Đảo, Phú Quốc [3, 7].

Cầy vòi hương thường sinh sống ở các khu rừng nguyên sinh, kể cả rừng thứ sinh nhưng với mật độ thấp. Loài thú này cũng được tìm thấy tại các khu vườn ở ngoại ô, nơi có nhiều trái cây chín. Tình hình nuôi cầy vòi hương Cầy vòi hương được nuôi ở Ấn Độ, Sri Lanka, Mianmar, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Lào và Campuchia. Việc nuôi cầy vòi hương sản xuất cà phê chồn hiện nay được thực hiện nhiều tại Indonesia với thương hiệu nổi tiếng Kopi Luwak [23].

Ở Việt Nam, việc nuôi cầy vòi hương để sản xuất cà phê chồn được thực hiện ở một số tỉnh có diện tích trồng cà phê lớn: Đắk Lắk, Lâm Đồng. Trong đó Đắk Lắk là tỉnh có nhiều cơ sở nuôi cầy vòi hương để sản xuất cà phê chồn có quy mô lớn nhất cả nước. Nhiều địa phương nuôi chủ yếu để cung cấp giống và thịt như Bắc Giang, Nam Định, Hà Nội, Thanh Hóa, Trà Vinh, Đắk Lắk, Long An, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh [11]. Tình hình nghiên cứu về cầy vòi hương 1.

Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1. Nghiên cứu về tập tính, phân bố và hiện trạng loài trong tự nhiên Cầy vòi hương (P. hermaphroditus) đã được nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Chitwan Royal- Nepal, nhằm xác định hoạt động hàng ngày và thay đổi tập tính dinh dưỡng theo mùa. Năm cá thể trưởng thành (hai cái và ba đực) được bắt và gắn với thiết bị để theo dõi.

Mỗi con được theo dõi trong 12 tháng liên tiếp cả đêm lẫn ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy, loài thú này hoạt động ban đêm nhiều hơn ban ngày. Trong 193 dạ dày cầy vòi hương được thu thập, có 84,5% dạ dày tìm thấy có hạt của các loại trái cây. Vào tháng tư, khi không có quả chín, cầy thay đổi chế độ ăn từ trái cây sang ăn các loài động vật không xương sống và động vật có xương sống kích thước nhỏ.

Cầy vòi hương cũng được cho là ăn mật hoa và nhựa từ thân của cây Vallaris solanacea. Tập tính ăn động vật và hoạt động chủ yếu về đêm cho thấy cầy vòi hương rất dễ bị ăn thịt bởi các loài động vật ăn thịt cỡ lớn [4]. Cầy vòi hương có khả năng ăn hạt cà phê tuy nhiên không thể tiêu hóa được hoàn toàn quả cà phê, nó chỉ tiêu hóa được phần thịt quả cà phê, rồi thải ra ngoài phần hạt cứng không tiêu hóa được. Những hạt này có hương rất khác biệt và hiếm có nên được chế biến thành một loại cà phê cao cấp và được gọi là “cà phê chồn” [1, 4].

Một báo cáo của viện nghiên cứu ở Triều Tiên vào năm 1997, về thói quen ăn uống của cầy vòi hương, đã liệt kê các loại thức ăn mà loài sử dụng bao gồm: nhóm động vật hữu nhũ nhỏ, các loài thuộc lớp chim, bò sát, lưỡng cư, cá, giáp xác, côn trùng, giun đất và hoa quả. Trong đó, 4 nhóm thức ăn chính của cầy vòi hương là côn trùng, giun đất, hoa quả, và loài hữu nhũ [24]. Cầy vòi hương có lối sống đơn lẻ, trừ một thời gian ngắn vào mùa giao phối. Chúng sống trên cạn và trên cây, hoạt động mạnh về đêm vào giữa buổi tối muộn đến sau nửa đêm [5].

Nakabayashi et al. (2012) đã tiến hành nghiên cứu các tương tác xã hội giữa cầy vòi hương đực, giữa cầy đực và cái. Các quan sát được hỗ trợ bởi ống nhòm và đèn pha có bộ lọc màu để đảm bảo ánh sáng không chiếu trực tiếp vào động vật theo dõi. Chiều cao của cây và các vị trí của động vật theo dõi được đo bằng máy đo khoảng cách laser.

Giới tính được xác định bằng cách quan sát bộ phận sinh dục luan an 7 ngoài. Thông tin từ kết quả quan sát cho thấy rằng hoạt động kiếm ăn chung ở cầy vòi hương ít phổ biến [25]. Cầy vòi hương đánh dấu mùi và phản ứng khứu giác qua các chất tiết khác nhau của tuyến đáy chậu, nước tiểu và phân. Sáu hình thức của hành vi đánh dấu mùi hương đã được mô tả.

Các hoạt động và tỷ lệ hình thức của hành vi đánh dấu khác nhau ở con đực và con cái. Hành vi đánh dấu bằng cách kéo các tuyến đáy chậu và để lại chất tiết trên bề mặt là phổ biến nhất được quan sát ở cả hai giới. Các phản ứng khứu giác cũng thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào giới tính và loại chất bài tiết [26]. Spaan et al.

(2014) đã đặt camera quan sát để nghiên cứu theo dõi về sự phân bố và tập tính của cầy vòi hương trong tự nhiên. Kết quả cho thấy, chúng thường xuyên di chuyển trên cây, di chuyển theo đường ống nước hay các cấu trúc nhân tạo khác nhau và đôi khi di chuyển trên mặt đất. Ngoài ra, cầy cũng sử dụng hệ thống ống thoát nước và mái nhà để ngủ. Cầy vòi hương có thể sử dụng đường ống và các con đường nhân tạo khác để di chuyển, màng giữa các ngón chân của chúng giúp tăng diện tích tiếp xúc giữa mặt dưới của bàn chân với bề mặt chất nền.

Hơn nữa, sự giảm thấp của trọng lực sẽ tăng cường sự an toàn của chúng khi đi bộ dọc theo các chất nền không ổn định hoặc mỏng [27]. Về tầm quan trọng của cầy vòi hương trong việc phát tán hạt, Nakashima và Sukor (2010) đã tiến hành nghiên cứu tại khu bảo tồn động vật hoang dã Tabin, trên đảo Borneo của Malaysia [6]. Các tác giả đã ước tính và dự đoán rằng khoảng cách phát tán hạt của cầy vòi hương xa hơn so với khỉ, và là một bộ phận tham gia phát tán tiềm năng các loại hạt giống có kích thước lớn trong rừng. Kết quả quan sát cho thấy, khi ăn cầy vòi hương thường nuốt hạt giống, thời gian lưu giữ hạt giống trung bình của cầy hương là 2,6 giờ.

Thời gian này là lâu hơn: 75 giây so với khỉ đuôi dài và 156 giây so với khỉ đuôi lợn. Việc theo dõi các hoạt động của cầy vòi hương đã chứng minh rằng chúng đã đi vài trăm mét trong thời gian kiếm ăn. Các ước tính trung bình khoảng cách phát tán hạt là 216 m. Ở một nghiên cứu khác, Nakashima et al.

Các mẫu phân thu thập đã được đưa vào túi nhựa và lưu trữ trong tủ đông ở -200C. Hạt có trong phân được sàng lọc qua lưới nylon 2 mm. Chiều dài và chiều rộng hạt được đo với thước kẹp có đơn vị đo micromet. Sau đó, hạt được luan an 8 trồng vào chậu đất và tưới nước hàng ngày, tối thiểu là sáu tháng để đánh giá khả năng phát triển hạt giống và xác định loài.

Để xác định các loài động vật trong các mẫu phân thu được, nhóm tác giả đã chiết xuất DNA từ khoảng 200 mg của mẫu phân. Tổng cộng 111 mẫu phân (79,1%) từ 139 mẫu phân thu thập được phân tích trình tự DNA. Kết quả cho thấy thành phần của phân cầy chủ yếu bao gồm hạt giống (92% các mẫu phân), động vật gặm nhấm (6,3%), động vật nhiều chân (5,5%), cua (4,5%), côn trùng (4,5%), chim (0,9%), ốc (0,9%), và hoa (0,9%). Các tần số xuất hiện của các mẫu phân có chứa hạt của cầy không thay đổi đáng kể trong những tháng khác nhau (χ2 = 10.

Hạt giống thuộc 30 loài thực vật khác nhau đã được xác định. Trong nghiên cứu này, tác giả đã chứng minh rằng cầy vòi hương có thể nuốt và phát tán các loại hạt giống có kích thước lớn không tương xứng với khối lượng cơ thể của chúng và do đó đóng một vai trò quan trọng phát tán xa cho các loại hạt giống trong rừng. Do vậy, chúng ta cần phải bảo tồn loài này để duy trì sự ổn định của hệ sinh thái, đặc biệt là ở các khu vực rừng bị suy thoái, khó tái sinh [28].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu đặc điểm sinh học và ảnh hưởng của kích dục tố đến khả năng sinh sản của cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus Pallas, 1777) trong điều kiện nuôi nhốt" của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thanh Bình và PGS. Nguyễn Thị Phương Thảo, tập trung vào việc tìm hiểu các đặc điểm sinh học của loài cầy vòi hương và tác động của kích dục tố đến khả năng sinh sản của chúng trong môi trường nuôi nhốt. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sinh học của loài động vật này mà còn mở ra hướng đi mới trong việc bảo tồn và phát triển giống loài.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các nghiên cứu liên quan đến sinh học và công nghệ sinh học, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu sinh học và nhân giống thạch tùng răng cưa Huperzia serrata tại Lào Cai và Lâm Đồng", nơi nghiên cứu về sinh học và nhân giống của một loài thực vật đặc biệt. Bên cạnh đó, bài viết "Khảo sát khả năng nhân nhanh và tái sinh chồi lan Mokara vàng chanh trong hệ thống nuôi cấy ngập chìm tạm thời" cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về công nghệ sinh học trong việc nhân giống thực vật. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ về vi khuẩn chuyển hóa ammonium và xử lý nước thải thủy sản" sẽ giúp bạn hiểu thêm về ứng dụng của vi sinh vật trong công nghệ sinh học và bảo vệ môi trường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong lĩnh vực sinh học và công nghệ sinh học.