ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là nguồn tài nguyên quan trọng của đất nƣớc ta. Rừng không những là cơ sở để phát triển - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kì quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, đảm bảo chu chuyển ô xi, và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định màu mỡ của đất làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai bảo tồn nguồn nƣớc và làm giảm mức ô nhiễm không khí. Hiện nay, Việt Nam hay một số nƣớc đang phát triển khác, diện tích rừng đang bị thu hẹp nhanh tróng. Theo bản đồ hiện trạng rừng của Maurand vào năm 1945 thì nƣớc ta có 14,352 triệu ha rừng, chiếm tỷ lệ 43,8% so với diện tích rừng tự nhiên.
Đến năm 2004 thì tổng diện tích rừng còn khoảng 12,3 triệu ha rừng, mất đi khoảng 4 triệu ha rừng tự nhiên và có thêm khoảng hơn 2 triệu ha rừng trồng. Có một số nguyên nhân làm cho nguồn tài nguyên ngày càng thu hẹp, đó là áp lực về dân số của các vùng tăng nhanh, nghèo đói, ngƣời dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác nguồn tài nguyên rừng, trình độ dân trí vùng sâu vùng xa còn thấp kiến thức bản địa chƣa đƣợc phát huy, hoạt động khuyến nông chƣa đƣợc phát triển, chính sách nhà nƣớc về quản lý rừng còn nhiều bất cập cơ cấu xã hội truyền thống có nhiều thay đổi… Nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ của nƣớc ta rất đa dạng phong phú, có nhiều loài có giá trị cao: số cây làm thuốc 22%, thực vật tinh dầu 7.14%, …nhiều loài lâm sản ngoài gỗ còn trở thành nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp hay làm nguyên liệu thực phẩm. Đặc biệt, phát triển lâm sản ngoài gỗ sẽ góp phần tăng cƣờng đa dang sinh học, bảo vệ nguồn gen, đảm bảo khả năng phòng hộ của rừng, giải quyết việc làm cho nông dân. Tuy nhiên, do một số nguyên nhân khác nhau đã làm cho nguồn lâm sản ngoài gỗ ngày càng suy giảm nghiêm trọng.
Thói quen sử dụng lâm sản ngoài gỗ đã gắn liền với cuộc sống hằng ngày của các cộng đồng dân cƣ sống gần rừng. Tuy nhiên, việc sử dụng rừng chủ yếu dự vào khai thác tài nguyên có sẵn, ít quan tấm đến bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ. Và nghiên cứu về lâm sản 1 ngoài gỗ còn rất hạn chế, chỉ có một số ít cơ quan tổ chức nghiên cứu về vấn đề này. Điều này dẫn đến nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ ở nƣớc ta ngày càng bị cạn kiệt, làm suy giảm tính đa dạng sinh học của rừng.
Rõ ràng lâm sản ngoài gỗ đang đứng trƣớc thách thức đáng lo ngại. Vì vậy, bảo tồn và phát triển Lâm sản ngoài gỗ là việc làm cần thiết hiện nay. Để có thể phục hồi, phát triển nguồn tài nguyên quý giá này cần phải có những giải pháp đồng bộ về chính sách và khoa học công nghệ. Tân Dân là một xã miền núi nằm ở phía Tây Bắc cách trung tâm huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh khoảng 27 km.
Tổng diện tích đất tự nhiên 7. Dân số xã có 588 hộ, 2.478 khẩu, dân tộc Dao chiếm 92%, còn lại 8% là dân tộc khác. Phần lớn diện tích rừng ở xã Tân Dân là đất rừng tự nhiên, xƣa có rất nhiều gỗ quý nhƣ lim, sến, táu, nhiều mây tre và cây dƣợc hƣơng liệu, trong đó có Trầm hƣơng, Ba kích, Cát sâm… và rất nhiều loài cây quý hiếm. Nên các loài cây ở đây đang đƣợc xem là các đối tƣợng bị săn lùng khai thác và nạn lâm tặc hoành hành, quá trình phá rừng làm nƣơng rẫy và chăn thả gia súc, cháy rừng làm cho nguồn tài nguyên bị tàn phá nặng nề.
Nếu không có các biện pháp bảo vệ và phát triển thì nguồn động, thực vật phong phú này sẽ ngày càng bị cạn kiệt, không có khả năng phục hồi , làm mất đi nguồn tài nguyên quý hiếm và mất đi sự phong phú và đa dạng. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên tôi tiến hành thực hiện đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài Cát sâm (Callerya speciosa) ở xã Tân Dân huyện Hoành Bồ tỉnh Quảng Ninh”, với mong muốn góp phần bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và trên bình diện toàn cầu nói chung. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trên thế giới Theo Catologue of life, Cát sâm (Callerya speciosa) là một loài thuộc chi Callerya, thuộc họ Đậu - Fabaceae Phân loại khoa học loài cát sâm (Callerya speciosa) Giới Thực vật (Plantae) Nghành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp Hoa Hồng (Rosidae) Bộ Đậu (Fabales) Họ Đậu (Fabaceae) Chi Callerya 1. Đặc điểm thực vật và khóa phân loại chi Callerya 1.
Đặc điểm thục vật chi Callerya Cây dây leo hóa gỗ, cây leo bụi hoặc gần nhƣ cây cao. Lá kèm nhẵn, gần nhƣ rụng sớm. Lá kép lông chim lẻ; lá kèm con nhọn, rụng sớm hoặc không; lá chét mọc đối hoặc gần đối. Hoa mọc đơn hoặc thành chùy, tập trung ở nách lá hay đầu cành; lá bắc ngắn, thƣờng rụng sớm; lá bắc phụ gần đài hoặc ở xa cuống, bền hoặc rụng sớm.
Đài ngắn, nhọn. Tràng nhẵn hoặc có lông mịn bao phủ phía ngoài, cánh cờ hình trứng hay gần tròn, thon hẹp thành móng; cánh bên thƣờng dính ít nhiều với cánh thìa. Bộ nhị 2 bó, nhị của cánh cờ rời với 9 nhị còn lại. Nhụy hình cuống.
Quả loại đậu tự mở hoặc không, vỏ mỏng hoặc dày, quả hơi lồi ở chỗ có hạt. Hạt 1-9, gần tròn; có chứa cây mầm. Khóa phân loại chi Callerya trong thực vật chí Trung Quốc. Tràng không lông: a.
Đài , nhụy có lông mịn hoặc lông dài. - Lá chét 7, kích thƣớc 4-8 x 1-2 cm, đỉnh lá nhọn có đuôi; hoa 1.8cm; tràng hoa màu vàng – C. 3 - Lá chét 7- 13, kích thƣớc 4-13 x 1-4 cm, đỉnh lá nhọn; hoa 2,5-3,5 cm; tràng hoa màu trắng, kem, hồng nhạt hoặc tím hoa cà. Lá chét thon, nhọn, mặt trƣớc có lông mịn rụng dần thành nhẵn, noãn nhiều – C.
Lá chét có lông mịn ở cả 2 mặt, noãn 4-6 – C. Đài có lông mnj, nhụy nhẵn. - Lá kèm mọc chèn ở các đốt sần trên thân. Đài có lông bao phủ, quả màu đỏ khi khô, hình thuôn, kích thƣớc 10- 11cm, lồi, rãnh quả sâu, chùy hoa dài 30cm – C.
Đài có lông bao phủ, quả màu đen khi khô, dẹt, dài 15cm, rãnh quả không sâu, chùy hoa dài 10-20cm – C. reticulata - Lá kèm không mọc ở nốt sần trên thân. Chùy hoa mọc ở phần phân nhánh của thân; tràng màu trắng hơi vàng, đài màu hồng; lá nhẵn, thuôn dài, khi khô có màu xanh nhạt, gân cấp 2 và cấp 3 nổi rõ ở cả 2 mặt lá, đỉnh lá nhọn có đuôi - C. championii Cành hoa mọc ở nách lá, rủ xuống, tràng hoa màu trắng hoặc tím; lá chét mỏng, xù xì, mặt dƣới lá có màu xanh xám khi khô, gân cấp 2 và cấp 3 hiện mờ không rõ, đỉnh lá nhọn – C.
Mặt ngoài tràng có phủ lông mịn. - Không có lá kèm non, lá chét dày – C. - Có lá kèm non, lá chét mỏng – C. - Quả mỏng, không nổi rõ vách ngăn giữa các hạt; hạt giống hình hạt đậu.
Chùm hoa thẳng, cành hoa ngắn; hoa đƣợc xếp gần nhau. Tràng hoa màu tím nhạt đến tím đậm; quả hình cuống có lông màu nâu bao phủ phía ngoài; lá chét có dạng hình trứng hoặc hình thuôn; lá kèm con giống hình dùi, dài 2mm – C. 4 Tràng hoa màu trắng hoặc màu tím nhạt; quả không có cuống, có màu xám bao phủ phía ngoài; lá chét có dạng hình elip hoặc hình trứng, mỏng; lá kèm con mảnh, nhỏ dài 5-6mm – C. Chùm hoa phân bố không theo quy luật, cành mảnh, các hoa xếp xa nhau.
Lá chét 5 hoặc 7, đỉnh lá nhọn có đuôi; cuống hoa dài – C. Lá chét 5, đỉnh hơi nhọn có đuôi; chùm hoa gần nhƣ không có cuống – C. - Quả bì, thƣờng thắt lại giữa các hạt; hạt hình cầu hay hình thận. Cành nhỏ, cuống lá và mặt sau của lá chét phủ đầy lông, không nhẵn; quả phủ đầy lông măng màu nâu.
Lá chét rộng 4-8 cm, có phủ lông hung màu nâu ở mặt sau lá, quả rộng 2-2.3-3 cm, có phủ lông măng ở mặt sau lá; quả rộng 1,5 cm – C. Cành nhỏ, cuống lá và mặt sau của lá chét phủ ít lông hoặc nhẵn; quả có phủ lông tơ màu xám, lông măng màu vàng hoặc lông măng màu xám. Chùm hoa có cuống ngắn, các hoa mọc sát nhau; quả không thắt lại giữa các hạt – C. Chùm hoa có cuống dài, các hoa mọc cách xa nhau; quả thắt lại giữa các hạt.
Cành mang hoa mảnh; lá chét dạng hình trứng ngƣợc; cuống dài 4mm, lá kèm con dài 4mm – C. Cành mang hoa thẳng; lá chét hình thuôn; cuống dài 2-3mm; lá kèm còn dài 1mm – C. - Tên gọi: tên khoa học là: Callerya speciosa (Champ.) schot, 1994 5 Có tên khác là : Millettia speciosa Champ. - Phân loại: thuộc họ Đậu (Fabaceae), bộ Đậu (Fabales), Chi Callerya.
- Đặc điểm sinh vật học: Loài Cát sâm đã đƣợc nhiều tác giả ở nhiều quốc qua và tổ chức nghiên cứu khoa học khác nhau nghiên cứu và mô tả. Việc mô tả hình thái nhìn chung là có sự thống nhất cao giữa các tác giả. Cát Sâm là cây bụi trƣờn, dài 1.5-3m, cành non có lông màu nâu; rễ củ nạc, vị ngọt thanh mát. Lá kép lông chim, lẻ, có 7-17 lá chét; lá chét hình thuôn, mũi giáo thuôn, cỡ 3-8 x 1-3 cm, 2 mặt có lông tơ màu trắng.
Cụm hoa chùm, mọc ở đầu cành hay nách lá, dài 30cm, cánh hoa và đài đều có lông nhung màu nâu. Hoa to, hoa mọc đơn độc trên đốt trục cụm hoa. Cánh hoa màu trắng, cánh cờ không có lông, 2 bên gốc có cục chai. Quả đậu, dẹp, dài 15cm, rộng 1.5cm, có lông nâu phủ dầy.
Hạt 3-6 hình trứng. - Sinh học và sinh thái: mùa ra hoa tháng 6-8, quả tháng 9-12. Mọc tự nhiên ven rừng, ven đồi, rừng cây bụi. Cây ƣa sáng, tái sinh htaj tốt.
- Phân bố: thấy nhiều ở Lào và phiá Nam Trung Quốc. - Giá trị: ở Vân Nam – Trung Quốc rễ củ đƣợc dùng làm thuốc có tác dụng thông kinh hoạt lạc, bổ nhuận phế, chữa cơ thể suy nhƣợc, kém ăn, ho đờm nhiều, nhức đầu, sốt, bí tiểu tiện.