Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Vi tri phan loai Sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda) là loài dich hại có nguồn gốc từ các vùng nhiệt đới ở bán cầu tây từ Hoa Kỳ đến Argentina. Tên tiếng anh thường gọi của loài dich hai này là fall armyworm (FAW), từ “armyworm” có thé dùng dé chỉ một số loài, thường mô tả hành vi gây thiệt hại quy mô lớn ở giai đoạn ấu trùng. Tên khoa học của chúng bắt nguồn từ frugiperda, theo tiếng Latin có nghĩa là “gây hại trái” và được đặt tên vì khả năng phá hủy mùa màng của loài này.
Sâu keo mùa thu (S. frugiperda) bao gồm hai chủng khác nhau về mặt di truyền trên lúa (chủng R) trên bắp (chủng C). > VỊ trí phân loại: Domain: Eukaryota Kingdom: Metazoa Phylum: Arthropoda Subphylum: Uniramia Class: Insecta Order: Lepidoptera Family: Noctuidae Genus: Spodoptera Species: Spodoptera frugiperda > Một số tên khoa học khác: Caradrina frugiperda Laphygma frugiperda Guenee, 1852 Laphygma inepta Walker, 1856 Laphygma macra Guenee, 1852 Noctua frugiperda J. Smith Phalaena frugiperda Smith & Abbot, 1797 Prodenia autumnalis Riley, 1870 Prodenia plagiata Walker, 1856 Prodenia signifera Walker, 1856 Trigonophora frugiperda Geyer, 1832 > Một số tên gọi quốc tế thông thường khác: Alfalfa worm; armyworm, fall; buckworm; budworm; corn budworm; corn leafworm; cotton leaf worm; daggy’s corn worm; grass caterpillar; grass worm; maize budworm; overflow worm; rice caterpillar; southern armyworm; southern grassworm; wheat cutworm; whorlworm (CABI, 2019).
Sự phân bố > Trên thế giới Loài sâu này có nguồn gốc từ những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Mỹ, lần đầu tiên được phát hiện ở châu Phi vào tháng 01/2016, ở Nigeria, SaoTome, Benin và Togo (Goergen và ctv, 2016; IPPC, 2016), sau đó chúng đã lây lan khắp châu Phi và gây thiệt hại nghiêm trọng, nhất là trên bắp. Loài sâu hại này hiện đã được xác nhận tại hơn 30 quốc gia ở châu Phi (FAO, 2018).000 ha cây trồng chủ lực, đặc biệt là bắp (Muniappan, 2019). Tại châu Á, loài sâu này được phát hiện lần đầu tiên ở Ấn Độ vào tháng 5/2018 (Ganiger và ctv, 2018; ITA, 2018; Sharanabasappa va ctv, 2018) va tiép tuc xâm nhập, lây lan sang các nước khác như Thai Lan (IPPC, 2018b), Myanmar (IPPC, 2019a), Sri Lanka (FAO, 2019a), Trung Quốc (FAO, 2019e), Bangladesh (FAO, 2019c), Hàn Quốc (IPPC, 2019b), Nhật Ban (IPPC, 2019d), Campuchia, Dai Loan va Nepal (Muniappan, 2019). Với điều kiện khí hậu phù hợp của nhiều vùng ở Chau Phi và Chau A, cùng với sự phong phú về các loài ký chủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh và phát triển của sâu keo mùa thu (CABI, 2019).
Sự phân bố của sâu keo mùa thu (S./giperđa) trên thé giới (CABI, 2019) > Trong nước Theo Nguyễn Ly Thanh Duy (2020), sau khi xâm nhập vào Việt Nam, sâu keo mùa thu đã phát sinh và gây hại ở hầu hết các tỉnh có trồng bắp trên cá nước. Khu vực phía Bắc có 13 tỉnh xuất hiện sâu keo mùa thu gay hại gồm: Sơn La, Điện Biên, Phú Thọ, Yên Bái, Hà Nội, Hà Nam, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Lai Châu, Lào Cai, Hòa Bình và Cao Bằng; Ở Bắc Trung bộ có 4 tỉnh bị nhiễm sâu keo mùa thu: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh và Quảng Bình; sâu keo mùa thu cũng tấn công bắp trồng ở các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên như: Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, KonTum, Gia Lai, Lâm Đồng, Đăk Lăk và Đăk Nông; Các tỉnh Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long gồm: Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tau, Long An, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh va Bạc Liêu,.cũng đã xuất hiện sâu keo mùa thu gây hai. Cuối năm 2019 cả nước ghi nhận diện tích nhiễm sâu keo mùa thu trên 76. Theo báo cáo của Cục Bảo vệ thực vật năm 2022 diện tích nhiễm sâu keo mùa thu ghi nhận cả nước là 13.
Tại các tỉnh phía Nam, theo báo cáo của Cục Bảo vệ thực vật, diện tích trồng bắp trong năm 2022 là 54.537 ha, trong đó tổng diện tích nhiễm sâu keo mùa thu khoảng 1.379 ha, nhiễm nhẹ với mật số 3-5 con/m2. Cụ thể: + Vụ Đông Xuân 2021-2022: Diện tích nhiễm sâu keo mùa thu là 519 ha, xuất hiện và gây hại tại các tỉnh Đồng Nai, Tiền Giang, Đồng Tháp và An Giang. + Vụ Hè Thu 2022: Diện tích nhiễm sâu keo mùa thu là 390 ha xuất hiện và gây hại tại các tỉnh Đồng Nai, Tiền Giang, Đồng Tháp, BR Vũng Tàu và An Giang. + Vụ Thu Đông - Mùa 2022: Diện tích nhiễm sâu keo mùa thu là 470 ha xuất hiện và gây hại tại các tỉnh BR Vũng Tàu, Đồng Nai, Tiền Giang, Đồng Tháp và An Giang.
Ký chủ Sâu keo mùa thu (S. frugiperda) là một loài gây hại đa thực, thức ăn ưa thích là cây thuộc họ Hòa thảo (Poaceae) (Casmuz và ctv, 2010). Theo Montezano và ctv, (2018) có 353 loài thực vật thuộc 76 họ là cây ký chủ của sâu keo mùa thu. Tập trung chủ yếu thuộc các họ Hòa thảo (Poaceae) với 106 loài thực vật, họ Cúc (Asteraceae) với 31 loài và họ Đậu (Fabaceae) với 31 loài, họ Cải (Brassicaceae) với 9 loài, họ Cà (Solanaceae) với 9 loài, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 8 loài.
Ví dụ: bắp, lúa, lúa miễn, mia, bắp cải, củ cải đường, đậu phộng, đậu tương, cỏ linh lăng, hành tây, bông, cỏ voi, có hoang dai, cà chua, khoai tay, thuốc lá, cải dầu, cải thìa, thầu dầu, khoai mì, cao su.trong đó cây thuộc họ Poaceae (grasses) thì được ưa thích hơn. Số lượng cây ký chủ của sâu keo mùa thu cao hơn khi so sánh với các loài khác có tầm quan trọng trong nông nghiệp như Spodoptera albula (Walker) (65 loài), Spodoptera cosmioides (Stoll) (126 loài), Spodoptera dolichos (Fabricius) (94 loai) va Spodoptera eridania (Stoll) (202 loai) (Montezano va ctv, 2014, 2015; Specht & Roque-Specht, 2016). Biết được loài thực vật nào mà sâu keo mùa thu có khả năng ăn, ké cả những loài cây không phải cây trồng như cỏ đại, là đặc biệt quan trọng trong bối cảnh quản lý địch hại. Theo Montezano và ctv (2018), xung quanh khu vực trồng trọt xuất hiện nhiều cây ký chủ phụ của sâu keo mùa thu thì khi cây trồng chính trong khu vực trồng trọt được thu hoạch thì sâu keo mùa thu có khả năng di chuyên hàng loạt sang cây trồng là cây ký chủ phụ dé tiếp tục gây hại, việc này giúp chúng duy trì quan thé Hình 1.
Sâu keo mùa thu gây hại trên một số cây trồng (CABL, 2019) (A). Trên cỏ ga (B). Trên cây cà chua (D). Trên cây cà bông (F).
Trên cây bắp 1. Đặc điểm hình thái và sinh học Sâu keo mùa thu trải qua 4 pha phát dục gồm trứng, ấu trùng (tuổi 1 đến tuổi 6), nhộng và trường thành. Âu trùng là giai đoạn gây hại của sâu keo mùa thu. Sâu keo thuộc nhóm côn trùng có biến thái hoàn toàn.
Trong điều kiện nóng - âm, vòng đời dài khoảng 30 - 35 ngày, trong năm sinh sản liên tục 4 — 6 lứa. Nhiệt độ thấp, chỉ có 1 — 2 lứa một năm (CABI, 2019). Vong đời gồm các giai đoạn: > Giai đoạn trứng Đào Thị Hằng và ctv (2019), quan sát trên đồng ruộng và trong phòng thí nghiệm cho thấy, trứng sâu keo mùa thu được đẻ thành 6. Ngoài tự nhiên, trứng được đẻ ở cả mặt trên và mặt dưới của lá bắp.
Muniappan (2019) trứng sâu keo mùa thu có hình vòm có đường kính 0,4 mm và cao 0,3 mm; chúng có màu vảng nhạt hoặc màu kem khi mới đẻ và chuyên sang màu nâu nhạt đến đen trước khi nở. Thời gian phát triển của trứng từ 2-3 ngày (ở điều kiện nhiệt độ từ 20-30°C) hoặc 3-5 ngày (trong điều kiện mùa hè). Trứng thường được đẻ thành từng 6, xếp từ 2-4 lớp trên bề mặt của lá với số lượng khoảng 150-200 trứng/ô. O trứng thường được đẻ ở mặt dưới của lá hoặc ở phần chóp lá, đôi khi trên những ruộng bắp còn nhỏ, trứng cũng được đẻ ở trên thân cây, chúng được bao phủ bởi một lớp vảy hoặc lông tơ màu hồng xám.
Một con cái có thể đẻ khoảng 1.000 trứng trong suốt đời sống của nó, tuy nhiên tài liệu của Huesing va ctv (2018) cho rằng tổng số trứng được đẻ bởi một trưởng thành cái trung bình là 1.500 trứng và tối đa lên đến 2. > Giai đoạn ấu trùng Theo Capinera (1999) ghi nhận, ấu trùng sâu keo mùa thu có 6 tuổi. Âu trùng có màu xanh nhạt đến nâu sam với các sọc doc. Au trùng có bốn đôi chân giả ở phần bụng và một cặp chân giả nằm ở cuối cùng.
Au trùng mới nở có màu xanh lục với đầu den, sau đó đầu chuyên sang mau cam nhiều hơn ở giai đoạn tuổi 2. Chiều rộng của ấu trùng từ khoảng 0,3 mm (tuổi 1) đến 2,6 mm (tuổi 6) và đạt chiều đài khoảng 1 mm (tuổi 1) đến 45 mm (tuổi 6). Ở giai đoạn cuối tuổi 2 đến tuổi 3, mặt lưng của cơ thé trở nên nâu và các đường trắng bên bắt đầu hình thành. Giai đoạn tuổi 4 đến tuổi 6, đầu có mau nâu đỏ, lốm đốm trắng và cơ thể màu nâu mang các đường dưới da và đường bên màu trắng.
Các đốm lỗi xuất hiện ở mặt lưng trên cơ thé, chúng thường có mau tối. Đào Thị Hằng và ctv (2019) cho rằng đặc điểm nổi bật là vân hình chữ Y ngược ở đầu rất rõ và ở mặt lưng đốt bụng cuối có 4 u màu đen, xếp thành hình vuông, nổi rõ trên bề mặt của đốt bung gần cuối (đốt thứ 8) trên cơ thé, đặc biệt đối với ấu trùng tuổi lớn. Au trùng có xu hướng lẫn tránh ánh sáng. Thời gian của giai đoạn ấu trùng sâu keo mùa thu khoảng 14 ngày trong điều kiện nóng ấm của mùa hè và sẽ kéo đài khoảng 30 ngày ở điều kiện thời tiết mát mẻ.
Pitre và Hogg (1983) cho rằng, thời gian phát triển trung bình đối với từng tuổi của ấu trùng từ tuổi 1 đến tuổi 6 được xác định là 3,3; 1,7; 1,5; 1,5; 2,0; và 3,7 ngày khi nuôi trong điều kiện 25°C. Theo tài liệu của Ramirez-Garcia va ctv (1987), ấu trùng từ tuổi 2 và tuổi 3 thường ăn thịt lẫn nhau. Tốc độ phát triển của ấu trùng thông qua sáu tuổi, phụ thuộc vào nguồn thức ăn và điều kiện nhiệt độ, thường chiếm thời gian từ 14-21 ngày. Muniappan (2019) đã mô tả thêm về đặc điểm ấu trùng tuổi lớn của sâu keo mùa thu là có ba sọc vàng chạy dọc sống lưng, có sọc đen rộng hon va một dải mau vàng đỏ lượn sóng ở mỗi bên cơ thể.
> Giai đoạn nhộng Khi chuẩn bị hóa nhộng, ấu trùng sâu keo mùa thu sẽ chui xuống đất ở độ sâu từ 2-8 cm dé làm kén.