Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Hội chứng Down 1.1 Định nghĩa Hội chứng Down (Trisomy 21) là một rối loạn phát triển do thừa một nhiễm sắc thể số 21. Tình trạng dư NST 21 có thể xảy ra trong cả một đoạn NST, được gọi là hội chứng Down chuyển đoạn. Hội chứng Down là một rối loạn phát triển gây ra suy yếu trong khả năng nhận thức và phát triển thể chất. Hội chứng Down hay gặp nhất trong các hội chứng có biểu hiện rối loạn NST ở trẻ sơ sinh sống.
Năm 1846, Seguin lần đầu tiên mô tả những đặc điểm hình thái của bệnh với tên gọi “Furfuraceous Idiocy”. Năm 1866, John Langdon Down đã mô tả một số bệnh nhân chậm trí tuệ với những dấu hiệu về hình thái rất đặc trưng: mặt tròn, khe mắt xếch, nếp quạt, hình ảnh bất thường về nếp gấp ở lòng bàn tay và giảm trương lực cơ.Năm 1959, Lejeune và cộng sự đã phát hiện ở những bệnh nhân mắc hội chứng Down có 47 NST và thừa 1 NST số 21. Tỷ lệ, dịch tễ Tỷ lệ mắc phải hội chứng Down được ước tính bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) là khoảng 1/1000 đến 1/1100 trẻ sơ sinh. Việc xác định hội chứng Down có thể được thực hiện qua các phương pháp như xét nghiệm mẫu rối DNA, xét nghiệm trước sinh, hoặc xét nghiệm trực tiếp sau sinh.
Điều này cung cấp cho các chuyên gia y tế thông tin quan trọng để đưa ra sự chẩn đoán chính xác và tư vấn cần thiết cho gia đình. Theo nghiên cứu của Trần Đức Phấn đã thống kê 0.07% trẻ ở Thanh Khê- Đà Nẵng và 0.11% ở Biên Hòa bị mắc hội chứng Down.[3] Theo các nghiên cứu thì Hội chứng Down có thể xảy ra với bất kỳ ai, tuy nhiên khi mẹ ngoài 30 tuổi thì nguy cơ con sinh ra bị Hội chứng Down sẽ cao hơn. Tuổi mẹ 20 thì tỉ lệ mắc phải là 1/2000. Nhưng khi tuổi mẹ là 35 thì tỷ lệ này là 1/350.
Khi mẹ ở tuổi 40 thì tỷ lệ nhảy vọt lên đến 1/100. Khoảng 85- 90% số thai Down bị chết ngay ở giai đoạn phôi. Các yếu tố nguy cơ Nguyên nhân gây ra hội chứng Down là do thừa một nhiễm sắc thể 21. Yếu tố làm tăng nguy cơ dẫn đến nguyên nhân này có thể được xác định ở những trường hợp sau: 1.
Độ tuổi của mẹ khi mang thai: Tuổi mẹ càng cao thì nguy cơ sinh con mắc bệnh Down càng lớn, nghiên cứu cho thấy nguy cơ cao hơn khi mẹ lớn hơn 35 tuổi. Phụ nữ mang thai khi tuổi đã cao (tỷ lệ ở mẹ bầu trên 35 tuổi là 1:350, trên 40 tuổi là 1:100, trên 45 tuổi là 1:30, trên 49 tuổi là 1:10). Người mang chuyển đoạn di truyền gây hội chứng Down: cả nam giới lẫn phụ nữ đều có khả năng di truyền cho đời sau chuyển đoạn di truyền gây hội chứng Down. Từng mang thai hoặc sinh con mắc hội chứng Down: nguy cơ sinh con hoặc mang thai bị bệnh trong những lần tiếp theo là 1:100 1.
Cơ chế phát sinh Hiện nay, chưa thể phát hiện chính xác nguyên nhân gây nên Hội chứng Down ở từng người. Đa số các trường hợp xảy ra là do gặp phải các vấn đề trong quá trình hình thành các tế bào sinh sản hoặc trong quá trình phát triển sớm của thai nhi. Tỷ lệ mắc bệnh sẽ tăng theo tuổi của mẹ (nguy cơ cao khi mẹ từ 35 tuổi trở lên), hoặc gia đình có tiền sử từng sinh con mang trisomy 18. Ở những trẻ mang Hội chứng Down, đa phần gặp là Down dạng thuần, Down dạng khảm ít gặp hơn và rất hiếm gặp Down dạng chuyển đoạn hoặc thể ba nhiễm kép.
Hội chứng Down thuần (Trisomy 21): Đây là loại phổ biến nhất, chiếm khoảng 95% các trường hợp. Trong trường hợp này, có một NST 21 thừa, thường là do sự không phân ly NST bất thường của tinh trùng hoặc trứng. Người mắc hội chứng này có tổng cộng 47 NST, được gọi là tam NST 21. Hội chứng Down thể khảm: Đây là kết quả của sự không phân bào trong quá trình phân chia tế bào trong phôi.
Người mắc hội chứng Down thể khảm có hai dòng tế bào, một với 46 NST bình thường và một khác với 47 3 NST, bao gồm NST 21 thừa. Tiên lượng và nguy cơ biến chứng y tế có thể khác nhau tuỳ thuộc vào tỷ lệ tế bào NST 21 trong mỗi mô, bao gồm cả não. Hội chứng Down chuyển đoạn: Đây là loại hội chứng Down chỉ có một NST 21 chuyển đoạn với một NST khác. Phổ biến nhất là chuyển đoạn t(14;21), trong đó một phần của NST 21 được gắn vào NST 14.
Nguy cơ của người mẹ mang gen này có con bị hội chứng Down là 1:3. Đặc điểm lâm sàng Hình 1. Hội chứng Down Hội chứng Down, còn được gọi là trisomy 21, là một tình trạng di truyền nguyên phát gây ra bởi sự có mặt thừa của một bản sao của các chromosom số 21. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự chậm phát triển trí tuệ và các vấn đề sức khỏe ở trẻ sơ sinh.
Hội chứng Down có tỷ lệ mắc phải 4 xấp xỉ từ 1/700 đến 1/800 trẻ sơ sinh và không có sự khác biệt đáng kể giữa các chủng tộc và tầng lớp xã hội. Người mắc hội chứng Down thường có những đặc điểm ngoại hình đặc trưng. Điều này bao gồm đầu nhỏ, ngắn, mặt tròn, gốc mũi tẹt, khe mắt xếch, nếp quạt, khẩu cái hẹp, vòm cung cao, lưỡi to và dầy hoặc nứt nẻ, thường thè ra ngoài khiến miệng không đóng kín (nửa mở). Tai thường nhỏ, có thể bị biến dạng và vị trí thấp.
Cổ ngắn và gáy phẳng rộng cũng là một trong những đặc điểm thường gặp. Bàn tay của họ rộng và các ngón tay thường ngắn. Da của họ có những đặc điểm đặc trưng như nếp vân đặc biệt trên lòng bàn tay và các đặc điểm da khác trên bàn tay và bàn chân.[5] Trẻ sơ sinh bị hội chứng Down thường có xu hướng ít hoạt động, ít khóc và trương lực cơ giảm. Hơn nữa, họ thường có sự chậm phát triển trí tuệ, với chỉ số IQ trung bình từ 30-50.
Ngoài ra, hội chứng Down cũng liên quan đến các vấn đề sức khỏe khác như dị tật tim, dị tật ống tiêu hóa và nguy cơ mắc tự kỷ. Tăng trưởng và phát triển Khi trẻ mắc bệnh lớn lên, sự chậm phát triển cả về thể chất và tinh thần trở nên rõ ràng. Chiều cao thấp và chỉ số IQ trung bình là 50. Hành vi gợi ý tăng động giảm chú ý thường xảy ra trong thời thơ ấu và tỷ lệ mắc chứng tự kỷ tăng lên (đặc biệt ở trẻ khuyết tật về trí tuệ).
Trầm cảm phổ biến ở trẻ em và người lớn. Tình hình Hội chứng Down trên thế giới và tại Việt Nam Theo nghiên cứu tại Đại học Florida được tiến hành từ năm 2000-2004 trên 10.000 trẻ em từ 14 tiểu bang Hoa Kỳ cho thấy, bất thường NST là nguyên nhân hàng đầu trong số các nguyên nhân gây nên các dị tật bẩm sinh phổ biến ở trẻ nhỏ[29]. Trong các nguyên nhân gây dị tật bẩm sinh phổ biến nói chung, trisomy 21( Hội chứng Down) chiếm 14,47%, trisomy 18 chiếm 2,66% và 1,23% có nguyên nhân là trisomy 13. Nghiên cứu trên 10.323 trường hợp bất thường NST gồm các trường hợp sinh con sống dưới 1 tuổi tại cộng đồng các nước châu Âu từ năm 2000 đến năm 2006, phát hiện 7.335 trường hợp trisomy 21, 18 và 13, trong đó trisomy 21 chiếm tỷ lệ 53%, trisomy 18 chiếm tỉ lệ 13%, trisomy 13 chiếm tỷ lệ 5%[30].
5 Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoàng Trang từ kết quả nuôi cấy từ dịch ối phát hiện 244/2686 trường hợp bất thường NST chiếm tỷ lệ 9,1%, trong đó Hội chứng Down (trisomy 21) chiếm tỷ lệ 17,5%[31]. Tác giả Hoàng Thị Ngọc Lan và cộng sự (2012) nghiên cứu trên 1865 thai phụ chọc hút dịch ối, phát hiện 6,77% thai phụ bất thường NST, trong đó, trisomy 21 chiếm 60,19%, trisomy 18 chiếm 24,27%, trisomy 13 chiếm 5,13%, Hội chứng Turner (45,X) chiếm 4,85%, Klinefelter (47,XXY) chiếm 2,91%, Hội chứng Siêu nam (47,XYY) chiếm 0,97%, Đa bội chiếm 0,97%[32]. Các phương pháp sàng lọc 1. Các phương pháp sàng lọc trước sinh không xâm lấn Người phụ nữ nào cũng có nguy cơ sẽ sinh con có bất thường NST.
Vì vậy test sàng lọc trong suốt thai kỳ sẽ giúp tính được nguy cơ cho từng các thể. Sàng lọc dựa trên tuổi mẹ Nguy cơ sinh con bất thường NST nói chung, và trong đó có bất thường số lượng NST số 21 tăng theo tuổi mẹ, nguyên nhân, do tuổi mẹ càng cao thì trứng càng chịu nhiều tác động từ môi trường bên trong cũng như bên ngoài, dẫn đến tăng nguy cơ bất thường NST.[6] Trong những năm 1970, chỉ tuổi mẹ được sử dụng để sàng lọc trước sinh các bệnh di truyền. Vì vậy, tất cả các bà mẹ trên 35 tuổi được coi là có nguy cơ và được chuyển tuyến để chọc ối, chiếm 5% dân số các thai phụ. Tuổi mẹ được coi là một phương pháp sàng lọc không đầy đủ và vào những năm 1980.
Trong phương pháp sàng lọc do N. Wald phát triển, trong tam cá nguyệt đầu tiên, các chất phân tích khác nhau được phát hiện trong huyết thanh của mẹ được kết hợp với tuổi của mẹ[7]. Nó ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong 30 năm qua khi tuổi thai trung bình tăng lên. Nguy cơ bất thường NST gia tăng theo số tuổi của mẹ.Thai bất thường NST có khuynh hướng sẽ chết trong tử cung do chọn lọc tự nhiên, do đó nguy cơ sẽ giảm theo tuổi thai.
Sàng lọc dựa vào tiền sử mang thai 6 Mẹ có tiền căn mang thai hoặc sinh con mắc Hội chứng Down thì nguy cơ sinh con lần nữa mắc HC Down sẽ cao hơn khoảng 0.75% so với nguy cơ chỉ dựa vào tuổi mẹ và tuổi thai. Dựa vào đặc điểm siêu âm thai Trên siêu âm, Hội chứng Down được sàng lọc bằng đo khoảng sáng sau gáy (KSSG) và phát hiện các bất thường hình thái đặc trưng. Khoảng sáng sau gáy (KSSG) hay còn gọi là độ mờ da gáy (Nuchal Translucency) là thuật ngữ dùng để mô tả khoang chứa dịch nằm giữa tổ chức phần mềm của cột sống cổ ở phía trước với da của vùng gáy ở phía sau, kích thước bình thường của cấu trúc này thay đổi theo tuổi thai và có thể quan sát thấy ở tất cả các thai nhi bằng siêu âm 2D ở tuổi thai từ 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày [9]. Thuật ngữ “độ mờ” được sử dụng không kể có vách ngăn hay không, hay chỉ giới hạn tại cổ thai nhi hoặc bao phủ toàn bộ cơ thể.