ĐẶT VẤN ĐỀ SVTH: NGUYỄN DUY THÙY 1 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN VĂN MINH ThS. DƯƠNG NHẬT LINH Cây ớt (Capsicum annuum) là một loại cây gia vị có nguồn gốc từ rất lâu đời khoảng 7500 năm trước Công nguyên hoặc sớm hơn. Được trồng khắp nơi ở Việt Nam và cũng được trồng nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Indonesia, Ấn Độ nhất là Hungari người ta trồng hàng nghìn hecta, mỗi năm xuất cảng từ 2500 đến 3000 tấn ớt khô (Đỗ Tất Lợi, 2004).
Do đó mà ngày nay diện tích trồng ớt đã tăng lên rất nhiều nhưng năng xuất thật sự chưa cao. Là loại cây dễ trồng nhưng rất tốn công chăm sóc và luôn gặp những tổn thất lớn trong vấn đề về dịch bệnh đặc biệt là bệnh thán thư do nấm Colletotrichum gây ra, theo (Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Văn Thành, 2010) hiện nay nấm Colletotrichum được mô tả có 11 loài (Von Arx, J. Nhưng (Alexopoulos, Mims, & Blackwell, 1979) thì đề xuất trên 1000 loài hình thức trong giống này đã được mô tả trước đây, phần lớn chúng trùng tên. Theo ý kiến gần đây nhất của (Baxters, 1985) Colletotrichum được giới thiệu có 11 loài: C.
là những loài thường gây bệnh thán thư. Bệnh lây lan mạnh do bào tử nấm phát tán xa và nhiều theo gió. Vì vậy, đây là dịch bệnh nghiêm trọng và gần như bất trị dù có phun nhiều loại thuốc đặc trị. Bệnh xuất hiện trên lá, thân và đặc biệt là trên trái làm giảm năng xuất và chất lượng nông sản từ 28 – 35 %, thiệt hại lên đến 70 – 80 %.
Theo Than et al. Vì thế vấn đề đối phó với bệnh thán thư là vô cùng quan trọng. Hiện nay tại các vùng trồng ớt phương pháp đối phó chủ yếu là phương pháp canh tác như luân canh với cây không thuộc họ cà, tiêu hủy phế phẩm, lên luống, tưới rửa cây sau mưa, bón vôi vào đất diệt mầm bệnh, xử lí hạt giống trước gieo trồng (Lisa Kitinoja, 2002). Tuy có giảm được một phần nào dịch bệnh những chủ yếu là để phòng bệnh còn lúc ruộng ớt đã bị bệnh thì phải sử dụng phương pháp hóa học bằng cách phun một số thuốc trừ nấm như Amista, Loverice, Melody duo 66, Ringo-L 20SC, Amistar250SC, Plant 50WP, Antracol 70WP, Polyram 80DF, Daconil 500SC,Score 250EC,10 Ridomil 68 WP, Bavistin 68 FL, Carbenzim 50 WP,…có khả năng kiểm soát bệnh hại nhanh.
Nhưng việc sử dụng thuốc không phù hợp có thể để có thể để lại dư lượng SVTH: NGUYỄN DUY THÙY 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN VĂN MINH ThS. DƯƠNG NHẬT LINH thuốc bảo vệ thực vật quá giới hạn trên nông sản gây độc cho sản phẩm, làm giảm uy tín và giá trị sản phẩm cũng như gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định và bền vững của hệ sinh thái. Trong những năm gần đây xu thế tất yếu trong lĩnh vực bảo vệ thực vật ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung là hướng tới sử dụng các phương pháp sinh học thân thiện với môi trường đưa nền nông nghiệp tiến tới nền nông nghiệp hữu cơ.
Đặc biệt là việc ứng dụng các vi sinh vật thiên địch trong việc sản xuất các chế phẩm phòng trừ dịch bệnh cây trồng. Một trong những vi sinh vật được nghiên cứu trong sản xuất chế phẩm sinh học là Bacillus và một số chủng khác như B.licheniformis an toàn với người và động vật và có khả năng tổng hợp được nhiều loại kháng sinh đối kháng được với nấm bệnh và một số vi khuẩn khác đã được nghiên cứu thành công ở nhiều nước trên nhiều đối tượng khác nhau (Nguyễn Thị Thúy Hồng, 2015). Ngoài ra Bacillus còn có khả năng tổng hợp một số chất kháng sinh tự nhiên như Bacitracin, Bacilysin, Baxilomicin (A,B,C,R), Bacillopectin, Mycobacillin, Subtilin (A,B,C), Prolimicin… có tác dụng ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật khác, tác dụng lên cả vi khuẩn gram âm lẫn gram dương, nấm gây bệnh (Giáng Hương, 2016). Ngoài ra đã có các nghiên cứu liên quan như Chủng Bacillus subtilis cũng được chứng minh có hiệu quả trong đối kháng Colletotrichum gloeosporioides gây bệnh thán thư trên ớt với khả năng ức chế nấm bệnh là 56,86 % (Ngullie M.
Với những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “SÀNG LỌC VI KHUẨN Bacillus CÓ KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT SINH HỌC VI NẤM Colletotrichum sp. GÂY BỆNH THÁN THƯ TRÊN CÂY ỚT.” Mục tiêu: Sàng lọc các chủng vi khuẩn Bacillus sp. có khả năng kiểm soát sinh học vi nấm Colletotrichum sp. gây bệnh thán thư trên cây ớt.
SVTH: NGUYỄN DUY THÙY 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN VĂN MINH ThS. DƯƠNG NHẬT LINH Nội dung thực hiện - Phân lập và định danh sơ bộ chủng vi nấm Colletotrichum sp. từ mẫu trái ớt bệnh thán thư và gây bệnh nhân tạo chủng vi nấm Colletotrichum sp.
lên trái ớt khỏe mạnh - Định danh chủng vi nấm Colletotrichum sp. bằng phương pháp sinh học phân tử. - Sàng lọc bộ sưu tập 7 chủng vi khuẩn Bacillus tiềm năng có khả năng đối kháng vi nấm Colletotrichum sp. gây bệnh thán thư trên cây ớt.
- Xác định phần trăm kiểm soát vi nấm Colletotrichum sp. của 7 chủng vi khuẩn Bacillus tiềm năng có khả năng kiểm soát sinh học vi nấm Colletotrichum sp. gây bệnh thán thư trên cây ớt. SVTH: NGUYỄN DUY THÙY 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
NGUYỄN VĂN MINH ThS. DƯƠNG NHẬT LINH PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH: NGUYỄN DUY THÙY 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN VĂN MINH ThS. DƯƠNG NHẬT LINH 1.
Giới thiệu chung Cây ớt là một loại gia vị được trồng rộng rãi trên thế giới và có tầm quan trọng trong thực phẩm của con người, có nguồn gốc từ Nam và Trung Mỹ (Dias GB, 2013); (Wahyuni Y, 2013). Đến nay ớt đã được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới bao gồm vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và các vùng có khí hậu ôn hòa (Momol, Ken Pernezny and Tim, 2006). Cây ớt thuộc học Cà (Solanaceae) chi ớt (Capsicum) có hơn 25 loài trong đó chỉ có 5 loài C. pubescens được thuần hóa và trồng ở nhiều nới trên thế giới.
Trong 5 loài được trồng trên thì C.annuum là một trong những loài được trồng phổ biến nhất trên thế giới (Tong N, Bosland PW, 1999) tiếp theo đó là C. Phân loại Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Equisetopsida Phân lớp: Magnoliidae Bộ: Solanales Họ: Solanaceae Chi: Capsicum Loài: Capsicum annuum Hình 1. Cây ớt (Capsicum annuum) Nguồn: Internet SVTH: NGUYỄN DUY THÙY 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN VĂN MINH ThS.
DƯƠNG NHẬT LINH 1. Đặc điểm Ớt thuộc loài thân thảo mọc tại những nước ôn đới, sống lâu năm và thân phía dưới hóa gỗ ở những nước nhiệt đới. Cây có nhiều cành. Lá mọc so le, hình thuôn dài, đầu nhọn, phía cuống cũng thuôn hẹp, có cuống, phiến lá dài 2 - 4 cm, rộng 1,5 – 2 cm.
Quả mọc rũ xuống hoặc quay lên trời, hình dáng thay đổi, khi thì tròn, khi thì dài, đầu nhọn. Quả chưa chín có màu xanh hoặc tím, quả chín màu vàng hoặc đỏ. Có loại rất cay, có loại ít cay tùy theo giống và điều kiện canh tác (Đỗ Tất Lợi, 2004) Hạt ớt nhỏ dẹp, dạng thận, màu vàng rơm, chiều dài khoảng 3 – 5 mm. Cây thường cao khoảng 0,5 – 1,5 m.
Ớt có rễ cọc với nhiều rễ phụ nhưng trong gieo trồng việc cấy chuyển cây làm rễ bị đứt và phát triển thành một hệ rễ chùm. Theo khóa phân loại của Paul G. Smith Capsicum annuum có cánh hoa đồng màu, từ trắng đến xanh vàng sáp (không có đốm hay màu tương phản khác). Bao phấn xanh tái đến tím.
Hoa đơn độc (đôi khi 2 hoa trên mắt đầu tiên), tràng hoa trắng hoặc trắng lẫn tím, đài hoa tách biệt ở cuối, có răng nhỏ ở mép. Giá trị dinh dưỡng Ớt rất giàu protein, lipid, carbohydrate, chất xơ, muối khoáng (Ca, P, Fe) và các vitamin A, D3, E, C, K, B2 và B12 (El-Ghoraba et al. Các hợp chất phytochemical trong ớt có quan hệ mật thiết đến sức khỏe chẳng hạn như acid ascorbic (Vitamin C), carotenoids (Provitamin A), tocopherols (Vitamin E), flavonoid và capsaicinoids rất quan trọng trong việc ngăn ngừa các bệnh mãn tính như ung thư, hen suyễn, ho, viêm họng, đau răng, tiểu đường và các bệnh tim mạch (El-Ghoraba AH, 2013) (Wahyuni Y, 2013). Ngoài ra ớt còn có đặc tính chống oxy hóa, chống đột biến gen, giảm cholesterol trong máu ức chế miễn dịch (El-Ghoraba AH, 2013) đồng SVTH: NGUYỄN DUY THÙY 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
NGUYỄN VĂN MINH ThS. DƯƠNG NHẬT LINH thời ức chế sự phát triển của vi khuẩn và kết tụ tiểu cầu (Wahyuni Y, 2013).1: Thành phần các chất có trong 100 gram phần ăn được của Ớt (Đặng Thanh Tuấn, 2012) Thành phần Hàm lượng Thành phần Hàm lượng Ẩm độ 85,7 g P 80 mg Protein 2,9 g Fe 1,2 mg Chất béo 0,6 g Na 6,5 mg Chất khoáng 1,0 g K 2,7 mg Carbonhydrate 3,0 g S 34 mg Chất xơ 6,8 g Cu 1,55 mg Ca 30 mg Thiamin 0,19 g Mn 24 mg Vitamin A 292 mg Riboflavin 0,39 mg Vitamin C 111 mg Acid oxalic 67 mg 1. Bệnh thán thư trên cây ớt 1. Giới thiệu chung Bệnh thán thư (Anthracnose) có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp có nghĩa “coal”, biểu hiện đặc điểm vết bệnh có màu tối như than, vết bệnh lõm xuống xuất hiện các vòng đồng tâm, có chứa các khối bào tử (Isaac S, 1992).
Bệnh thán thư trên ớt lần đầu tiên được báo cáo tại New Jersey Hoa Kỳ bởi (Halsted BD, 1890) đã mô tả các tác nhân gây bệnh là Gloeopsorium piperatum và Colletotrichum nigrum. Bệnh có thể gây hại trên diện rộng trước và sau khi thu hoạch chúng cũng có thể là mầm bệnh SVTH: NGUYỄN DUY THÙY 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. NGUYỄN VĂN MINH ThS. DƯƠNG NHẬT LINH tiềm ẩn vì đôi khi chúng không phát triển cho đến khi quả chín.
Bệnh có thể gây hại trên lá, thân trái trước và sau thu hoạch (Isaac S, 1992). Bệnh thán thư trên ớt đã được nghiên cứu là do nấm Colletotrichum spp. gây ra bao gồm nấm C.) Butler và Bisby, C. Nhiệt độ và các yếu tố khác chẳng hạn như độ ẩm bề mặt lá, độ ẩm, ánh sáng hoặc hệ vi sinh vật cạnh tranh (Royle DJ, Butler DR, 1986) thưởng ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ sinh trưởng của nấm.
Bề mặt ẩm ướt ảnh hưởng trực tiếp nhất đến sự nảy mầm, lây nhiễm và phát triển của mầm bệnh trên vật chủ. Nói chung sự xâm nhiễm xảy ra trong nhiệt độ ấm, ẩm ướt. Nhiệt độ khoảng 27 °C và độ ẩm cao (trung bình là 80 %) là tối ưu cho sự phát triển của bệnh thán thư (Roberts PD, 2001).