Chương 1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP MIỀN BẮC VIỆT NAM TỪ SAU CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP ĐẾN TRƯỚC NĂM 1958 1. Tình nông nghiệp miền Bắc Việt Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ Chiến thắng Điện Biên Phủ và thắng lợi của Hội nghị Giơ-ne-vơ đã kết thúc 9 năm trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta. Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền Nam – Bắc.
Mặc dù thu được những thắng lợi quan trọng trên bàn đàm phán nhưng tình hình Việt Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Đối với miền Bắc, sau giải phóng bắt đầu bước vào giai đoạn cách mạng Xã hội Chủ nghĩa (XHCN). Hậu quả để lại của cuộc chiến tranh kéo dài làm nền kinh tế sa sút nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp vốn đã lạc hậu. Nông nghiệp bị tàn phá nặng nề ngày càng kiệt quệ “Diện tích đất canh tác bị bỏ hoang rất lớn tới 145.000 héc-ta, 80 công trình thủy lợi lớn tưới cho 320.000 héc-ta ruộng bị phá hủy, đê điều bị hư hỏng, nông cụ bị phá phách, trâu bò bị bắn giết (có nơi cả xã chỉ có một vài con trâu, hàng trăm mẫu ruộng đất không có một con bò cày)” (Vân Huy, 1963).
Cuối năm 1954 đến giữa năm 1956, miền Bắc liên tiếp xảy ra thiên tai lớn gây ra thiệt hại không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp “mưa úng làm thiệt hại đến 150.000 héc-ta trong vụ mùa năm 1954, bão mặn giữa năm 1955 làm cho hàng vạn héc-ta ruộng ở vùng ven biển Bắc bộ bị ngập nước mặn, hạn hán kéo dài từ vụ này sang vụ khác, đầu năm 1956, diện hạn rộng tới 150.000 héc-ta, cuối năm lại có mưa lũ làm ngập trên 65.000 héc-ta lúa chiêm sắp gặt và trên 147.000 héc-ta lúa mùa vừa mới cấy xong” (Vân Huy, 1963). Cùng với đó, nạn đói ở một vài nơi thuộc những vùng địch càn đi quét lại nhiều lần, những vùng vành đai trắng ruộng hoang nhà vắng “trên 1 triệu người thiếu ăn và đói. Giá gạo tăng đến 800 đồng một kg” (Thế Đạt, 1981). Nạn đói không chỉ đe dọa nghiêm trọng đời sống của người dân ở nông thôn mà nó còn ảnh hưởng đến sản xuất.
Hàng chục vạn đồng bào nông dân bị địch cưỡng ép di cư làm giảm bớt lực lượng sản xuất ở nông thôn và càng làm tăng thêm diện tích bỏ hoang bỏ hóa không người cày LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mặt khác, các vùng mới giải phóng là nơi người đông, ruộng nhiều, đất tốt… nhưng ruộng đất vẫn còn nằm trong tay bọn địa chủ phong kiến, quan hệ sản xuất cũ còn tồn tại, người nông dân chưa có ruộng cày cấy và còn đang bị áp bức bóc lột. Sức sản xuất ở nông thôn bị kìm hãm nghiêm trọng nên sản xuất nông nghiệp không thể phát triển được. Phác họa lại bức tranh nông nghiệp miền Bắc giai đoạn này, Hồ Chủ tịch viết: “…Chiến tranh xâm lược của bọn thực dân đã làm cho nền kinh tế của ta kiệt quệ.
1/7 ruộng đất bị bỏ hoang, 1/3 ruộng đất không có nước tưới để cày cấy, các công trình thủy lợi đều bị phá hủy, 1/4 số trâu bò bị giặc bắn giết… Nạn đói đe dọa khắp nơi… Tóm lại là một cảnh tượng hoang tàn, xơ xác” (Thế Đạt,1981). Trước những khó khăn miền Bắc đang phải đối mặt, vấn đề quan trọng nhất lúc này là khôi phục kinh tế hàn gắn vết thương sau chiến tranh. Trong vấn đề khôi phục kinh tế, sản xuất nông nghiệp được Đảng và Nhà nước đặt lên hàng đầu. Tháng 9/1954, Nghị quyết của Bộ chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: “Sau đình chiến chúng ta đứng trước một nhiệm to lớn trong công tác kinh tế là hàn gắn những vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế quốc dân, giảm bớt những khó khăn về đời sống của nhân dân, phát triển kinh tế có kế hoạch và làm từng bước…Trong thời kì phục hồi, trước hết cần nắm vững việc phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp…” (Thế Đạt, 1981).
Như vậy, nhiệm vụ lúc này của Đảng và Chính phủ ta đó là khôi phục kinh tế, trọng tâm là phát triển sản xuất nông nghiệp hàn gắn vết thương chiến tranh, kịp thời thực hiện công cuộc cải tạo XHCN thắng lợi, đẩy lùi nạn đói ở miền Bắc, đảm bảo cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân. Cùng với đó, miền Bắc phải trở thành hậu phương vững chắc để cung cấp lương thực, thực phẩm cho miền Nam đánh giặc. Nhiệm vụ của miền Bắc lúc này hết sức nặng nề và rất quan trọng. Nhìn nhận được vấn đề một cách thấu đáo, sáng suốt, Đảng và Chính phủ ta đã đề ra nhiều chính sách, trước hết là chính sách ruộng đất để phát triển nông nghiệp ở miền Bắc, để miền Bắc hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của mình.
Chính sách của Đảng và Nhà nước về ruộng đất sau năm 1954 1. Tiếp tục thực hiện cải cách ruộng đất ở miền Bắc từ năm 1954-1956 Giai đoạn sau năm 1954, trong nông nghiệp chính sách về ruộng đất được coi là chính sách hàng đầu để phát triển sản xuất nông nghiệp. Việc thực hiện từng bước các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 chính sách cải cách dân chủ từ sau Cách mạng tháng Tám đến năm 1952 đã tạo ra những chuyển biến to lớn, sâu sắc trong chế độ ruộng đất và quan hệ giai cấp ở nông thôn nước ta. Tuy nhiên, về mặt sở hữu ruộng đất, đến năm 1953 giai cấp địa chủ vẫn còn chiếm một tỉ lệ diện tích quan trọng trong khi đại đa số nông dân vẫn thiếu ruộng phải lĩnh canh cấy rẽ và nộp tô cho chúng.
Khẩu hiệu “người cày có ruộng” chưa được giải quyết một cách căn bản, giai cấp địa chủ vẫn bóc lột nông dân nghèo dưới chế độ tô thuế và vẫn tồn tại như một giai cấp. Bắt đầu từ năm 1953, Đảng và Chính Phủ phát động quần chúng tiến hành giảm tô, thoái tô và giảm tức. Chiến dịch bắt đầu từ năm 1953 và kết thúc năm 1956 qua 8 đợt giảm tô được tiến hành ở 1.875 xã và đã thu được nhiều kết quả. Cuộc phát động quần chúng giảm tô thực sự là một cuộc tập dợt vĩ đại trước khi Đảng tiến hành cuộc phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân việc thi hành chính sách giảm tô, giảm tức nhiều nơi không thu được kết quả như mong đợi, quá trình thực hiện gặp nhiều sai phạm, những yêu cầu của người nông dân vẫn không được thỏa mãn. Trong bối cảnh đó, Hội nghị Trung ương Đảng họp lần thứ IV (1/1953) đã kiểm điểm việc thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng trong những năm kháng chiến và kết luận rằng chúng ta chưa kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ phản đế và phản phong, chính sách ruộng đất chưa được thi hành đầy đủ và kịp thời. Vấn đề được đưa ra và cần phải giải quyết kịp thời lúc này phải tiến hành là thực hiện cải cách ruộng đất. Chính trong đợt phát động quần chúng giảm tô hoàn thành đã tạo cơ sở cho nông thôn bước vào cuộc đấu tranh mới: phát động quần chúng cải cách ruộng đất, xóa bỏ giai cấp địa chủ, hoàn thành nhiệm vụ xóa bỏ chế độ phong kiến.
Chủ trương cải cách ruộng đất đã được hình thành từ dự thảo Cương lĩnh ruộng đất ở Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II (tháng 1/1953). Hội nghị lần V, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II (11/1953) quyết định tiến hành phát động quần chúng cải cách ruộng đất. Từ ngày 14–23/11/1953, Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp, bổ sung và trở thành cương lĩnh chính thức. Tháng 12/1953, Luật cải cách ruộng đất chính thức được Quốc hội thông qua trong một kì họp đặc biệt.
Để thực hiện tốt mục đích yêu cầu đề ra cho cuộc vận động mọi công tác đều phải quán triệt đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn là “dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với phú LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nông, tiêu diệt chế độ bóc lột phong kiến từng bước và có phân biệt, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến” (Trường Chinh, 1954). Thể chế hóa Luật cải cách ruộng đất đã được Quốc hội thông qua, từ năm 1953 đến năm 1956, Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phát động cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam. Tháng 12/1953, cải cách ruộng đất bắt đầu mở đợt thí điểm. Đợt thí điểm cải cách ruộng đất được tiến hành tại 6 xã thuộc huyện Đại Từ (Thái Nguyên).
Thắng lợi của đợt cải cách ruộng đất đầu tiên đã vượt ra ngoài phạm vi của những địa phương nhỏ hẹp “Ảnh hưởng của nó vang dội trong toàn quốc, làm nức lòng quần chúng công nông ở địa phương và các chiến sĩ ngoài tiền tuyến” (Lâm Quang Huyên, 2007). Cuộc cải cách ruộng đất được tiến hành song song với cuộc phát động giảm tô và thực hiện qua 5 đợt. Đợt 1 cải cách ruộng đất kết thúc vào lúc hòa bình được lặp lại, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng bước vào giai đoạn cách mạng XHCN. Đợt 2 cải cách ruộng đất được tiến hành trong hòa bình.
Từ đó, cuộc phát động quần chúng bắt đầu lan rộng vào vùng trung du và đồng bằng vùng mới giải phóng. Đợt 4, 5 cải cách ruộng đất tiến hành trên một địa bàn rất rộng, mỗi đợt gồm mấy trăm cho đến một nghìn xã. Trải qua 5 đợt, cải cách ruộng đất đã kết thúc vào tháng 7/1956 “Tổng cộng cả 5 đợt là 3.314 xã (sau chia nhỏ thành 3.653 xã) thuộc 22 tỉnh, thành phố” (Hoàng Ước, Lê Đức Bình và Trần Phương, 1968). Đường lối giai cấp và đường lối quần chúng đúng đắn của Đảng đã phát động được nông dân trỗi dậy làm cải cách ruộng đất, giành ruộng đất và quyền làm chủ ở nông thôn.
Bầu không khí cách mạng ở nông thôn kháng chiến trong thời kì giảm tô và cải cách ruộng đất không những đã đưa cuộc cách mạng phản phong với một khí thế như vũ bão tới thắng lợi mà còn có sức động viên toàn lực nhân dân hăng hái ra chiến trường đánh thắng chủ nghĩa đế quốc. Kết quả của cuộc phát động quần chúng cải cách ruộng đất, số ruộng đất tịch thu, trưng thu, trưng mua được của địa chủ chia hẳn cho nông dân lao động và xác nhận quyền sở hữu của họ đối với số ruộng đất được tạm cấp, phân tán trước đây “Tổng cộng từ năm 1953-1957,810.000 héc-ta ruộng đất ở đồng bằng và trung du miền Bắc đã được chia cho 2.138 hộ nông dân và nhân dân lao động bao gồm 8.