ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết Trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, sản xuất nông nghiêp vẫn là ngành được Đảng và nhà nước quan tâm. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sinh trưởng phát triển các loại cây trồng nói chung, cây mía nói riêng, từ những năm 1990 ngành mía đường đã được nhà nước ưu tiên phát triển. Đầu tư vào mía đường, thứ nhất để đáp ứng trước mắt nhu cầu tiêu thụ đường trong nước đang ngày càng nâng cao theo điều kiện mức sống của người dân.
Thứ hai là để phục vụ cho xuất khẩu đường ra thế giới thu ngoại tệ cho quốc gia. Tuy nhiên trên thực tế thì ngành mía đường vẫn còn một số tồn tại làm ảnh hưởng đến phát triển của ngành mía đường nói riêng và của cả nền nông nghiệp nước ta nói chung. Đó là những tồn tại công tác quản lý, kỹ thuật thâm canh mía và sản xuất đường,… Trong những năm 90, ngành mía đường ở Việt Nam chưa thực sự phát triển, với nhu cầu tiêu thụ trước mắt và xuất khẩu lâu dài. Nhà nước và Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện chương trình “1 triệu tấn đường”.
Thực hiện chương trình này nhiều vùng nguyên liệu đường được quy hoạch, nhiều nhà máy đường được xây dựng. Sau khi chương trình được hoàn thành, nước ta đã đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ đường trong nước. Tuy nhiên, sau đó do nhiều nhà máy làm ăn thua lỗ, ngành mía đường đã có thời gian bị chững lại. Các hạng mục đầu tư chủ yếu vào ngành mía đường là đầu tư cải tiến kỹ thuật, máy móc thiêt bị hầu như không còn được quan tâm.
Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng sản xuất mía đường để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa việc đầu tư, phát triển bền vững ngành mía n đường sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh sản xuất đường của Việt Nam nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ lâu dài và xuất khẩu ổn định, đóng góp cho sự phát triển nền nông nghiệp nước nhà. Xuất phát từ cở sở trên với mong muốn nâng cao năng suất sản lượng mía đường và đưa ra một số giải pháp cần thiết cho sự phát triển bền vững của ngành mía đường tại địa phương, tôi đã thực hiện đề tài: “Điều tra tình hình sản xuất mía tại thị trấn Hòa Thuận, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng” .2 Mục đích, yêu cầu.1 Mục đích - Tìm hiểu đánh giá thực trạng sản xuất mía tại thị trấn Hòa Thuận, huyện Phục Hòa , tỉnh Cao Bằng. - Xác định được những khó khăn, thuận lợi trong sản xuất mía và đưa ra những giải pháp nhằm góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất mía nói riêng tại địa phương.2 Yêu cầu - Điều tra về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lí, điều kiện khí hậu và các thông tin về tình hình sản xuất mía tại thị trấn Hòa Thuận, huyện Phục Hòa , tỉnh Cao Bằng. - Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao năng suất, sản lượng mía tại địa phương.
n Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình sản sản xuất mía đường trên thế giới Đường là một nhu cầu cần thiết trong đời sống hàng ngày của con người. Theo thống kê, nhu cầu tiêu thụ đường trên đầu người hiện nay là 35 kg/năm, tại Ấn Độ là 20kg/năm.Đường thực phẩm được chế biến từ 2 nguyên liệu chính là mía và củ cải đường. Tại các nước EU, việc hạ giá cho sản xuất củ cải đường đã và đang giảm đáng kể, dẫn tới diện tích củ cải đường giảm mạnh.
Vụ 2006/2007 EU đạt sản lượng 16,6 triệu tấn, vụ 2008 /2009 chỉ còn 20,45 triệu tấn. Với cây mía, nhiều nước sản xuất đường hàng đầu thế giới như: Brazil, Australia, Columbia, Mỹ, Thái Lan lại có chương trình sử dụng năng lượng sạch là Bio - ethanol sản xuất từ nước mía (mật rỉ đường). Sản xuất ethanol để bổ sung nhiên liệu sẽ có tác động lớn đến quan hệ cung cầu về đường thế giới. Hiện nay có khoảng 70 nước thuộc khắp các châu lục trồng mía.
Chúng được phân bố từ 350 vĩ tuyến bắc đến 350 vĩ tuyến nam, các vùng mía lớn đều tập trung vào giữa nam và bắc chí tuyến, phân bố ít ở vùng xích đạo. Theo thống kê của tổ chức đường thế giới (ISO) sản lượng đường hàng năm không ngừng tăng cùng với sự tăng nhanh của dân số, kinh tế ngày càng phát triển, cộng thêm đời sống ngày càng cao của của cộng đồng. Niên vụ 2004/2005 sản lượng đường thế giới đạt 142,2 triệu tấn, vụ 2005/2006 sản lượng đường đạt 147,8 triệu tấn sản lượng cao hơn vụ trước là 5,6 triệu tấn. Theo Tổ chức Nông – Lương Liên Hiệp Quốc (FAO), sản lượng đường thế giới năm 2013 đạt 2.165,23 triệu tấn, tăng 322,96 triệu tấn so với năm 2012 nhờ sự gia tăng sản lượng của Braxin, Nga, Mỹ, vùng Viễn đông Châu Á và Đông Âu, trong đó riêng sản lượng của các nước đang phát triển đạt 116,5 triệu tấn, tăng 9,7%.1: Tình hình sản xuất mía trên thế giới giai đoạn 2009 - 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng mía Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2009 23,70 71,19 1.165,23 (Nguồn: FAOSTAT 9/2014) Qua bảng trên cho thấy diện tích và năng suất mía trên thế giới tăng dần qua các năm.
Diện tích năm 2009 là 23,7 triệu ha năng suất đạt 71,19 tấn/ha, đến năm 2013 đạt 26,52 triệu ha và năng suất đạt 81,64 tấn/ha, do đó sản lượng mía tăng lên qua các năm, đến năm 2013 đạt 2.162,23 triệu tấn Từ việc sản xuất mía đường trên thế giới nêu trên, chúng tôi thấy những nước sản xuất mía đường đã sớm chú ý đến việc nghiên cứu sinh trưởng, phát triển của cây mía để đưa ra những biện pháp kỹ thuật đầu tư, thâm canh chăm sóc và chọn giống tốt cho năng suất cao, chất lượng tốt để đưa vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất mía cũng như sản lượng đường. Tình hình sản sản xuất mía nguyên liệu ở Việt Nam. Ở Việt Nam, khoảng 250 năm trước công nguyên, nước Âu lạc đã biết trồng mía, ép mật, nấu đường,…Sản xuất mía lúc đầu ở miền núi, sau lan xuống trung du, đến đồng bằng. Lúc đó vùng Phục Hòa, Cao Bằng và Vĩnh Trụ Hà Nam đã tạo nên mật đường, đường phèn có tiếng của cả nước.
Ép mía thủ công phát triển cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20. Cây mía là cây trồng nhiệt đới, phát triển tốt trong phạm vi từ 35° vĩ tuyến Bắc đến 35° vĩ tuyến Nam. Cây mía là cây không kén đất, có thể trồng n được trên nhiều loại đất từ đất cát đến sét nặng. Cây mía sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ từ 21°C - 35°C, thời kì mía chín nhiệt độ thấp từ 14°C - 25°C là thích hợp nhất để tích lũy đường trong thân.
Cây mía thích ứng rất rộng từ vùng khô có lượng mưa từ 800 - 900mm/năm đến những vùng mưa nhiều từ 2000 - 3000mm/năm. Tuy nhiên, mía là một cây ưa nắng, thông thường khoảng thời gian nắng từ 2400 giờ trở lên trong 1 năm mới đủ để cây mía phát triển hết tiềm năng cuả nó. Nghề trồng mía làm mật ở nước ta có từ những năm 767 – 791 vào thời Lý, nó được du nhập từ nước bạn Trung Quốc. Nhưng công nghệ làm đường từ mía xuất hiện tại Việt Nam từ những năm Pháp thuộc, khi quân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất chúng đã đưa công nghệ làm đường vào.
Từ đó ngành mía đường nước ta trải qua bao nhiêu thăng trầm đến nay có 40 Công ty mía đường ra đời rải khắp từ bắc vào nam theo chiều dài đất nước vùng chiếm nhiều nhất là Đồng Bằng Sông Cửu Long. Ngành mía đường nước ta hiện nay đang trên đà phát triển, trong tương lai sẽ chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Việt Nam nằm ở vị trí từ 8°- 23° vĩ tuyến Bắc nên hoàn toàn thích hợp cho cây mía sinh trưởng và phát triển. Theo đánh giá của các chuyên gia thì Việt Nam có điều kiện nông nghiệp trên mức trung bình thế giới đảm bảo đủ để phát triển cây mía.
Vào đầu những năm 80, diện tích mía của cả nước tăng đạt 162. Sau đó diện tích mía giảm dần, chủ yếu là do giá đường thế giới giảm mạnh, đường nhập khẩu nhiều và thậm chí có lúc vượt quá nhu cầu tiêu dùng trong nước, làm giá đường và giá mía trong nước giảm mạnh. Vì vậy, nhiều nông dân đã giảm diện tích trồng mía. Tốc độ tăng diện tích mía bình quân trong 10 năm 1980-1990 là 1,77%/năm.
n Đầu thập niên 90, sản xuất mía đã được phục hồi dần và có tốc độ phát triển khá hơn giai đoạn trước, những năm 1990 - 1994 đạt tốc độ tăng diện tích bình quân hàng năm là 6,23%. Năm 1994, cả nước có 166,6 nghìn ha, tập trung chủ yếu ở các vùng như: Đồng bằng Sông Cửu Long, Duyên hải miền Trung, khu 4 cũ và Đông Nam Bộ. Trước năm 1994, bộ giống mía trồng ở nước ta hầu hết là giống mía cũ, đã thoái hóa, năng suất thấp. Trong giai đoạn 1980-1990, năng suất mía bình quân cả nước chưa bao giờ vượt quá mức 40 tấn/ha, tốc độ tăng năng suất thâp, ở mức 0,4%.
Từ năm 1990 đến 1994, năng suất mía trung bình của cả nước cải thiện đáng kể, tăng từ 41,3 tấn/ha lên 45,1 tấn/ha với tốc độ tăng là 2,3%. Tuy nhiên ở những vùng đất xấu, năng suất mía cây vẫn chỉ đạt là 30 - 32 tấn/ha. Do kĩ thuật canh tác lạc hậu, trình độ thâm canh thấp, chất lượng mía kém, chữ đường thấp (dưới 9 CCS). Trong giai đoạn 1980-1990, sản lượng mía của cả nước tăng thấp, bình quân 2,18%/năm.
Sau đó sản lượng mía tăng nhanh hơn trong những năm từ 1990-1994, bình quân 8,71%/năm, chủ yếu nhờ tăng diện tích hơn năng suất. Năm 1994, sản lượng mía cả nước đạt 7,5 triệu tấn. * Giai đoạn từ năm 1995 đến nay. Trong 5 năm thực hiện Chương trình 1 triệu tấn đường, diện tích và năng suất mía trên cả nước đã có tốc độ tăng vọt.
Nếu như năm 1994, cả nước chỉ có xấp xỉ 170 nghìn ha thì đến niên vụ mía năm 1999/2000, diện tích mía của cả nước lên tới 344,2 nghìn ha, tăng bình quan 15,2%/năm. Năng suất mía bình quân cả nước đạt 51,6 tấn/ha vào năm cuối cùng của Chương trình mía đương, tăng đáng kể với mức xấp xỉ 45 tấn/ha của năm 1994. Nhờ tăng trưởng nhanh cả về năng suất và diện tích, sản lượng mía cây tăng đột biến đạt 17,8 triệu tấn vào niên vụ 1999/2000, gấp 2,4 lần sản lượng cao nhất trước khi có chương trình mía đường.