Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành mía đường Việt Nam bắt đầu được định hướng quy hoạch và ưu tiên phát triển mạnh từ những năm 1990 thông qua chương trình "1 triệu tấn đường" nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và hướng tới mục tiêu xuất khẩu. Tuy nhiên, sau giai đoạn mở rộng nhanh chóng, ngành mía đường trong nước bộc lộ nhiều hạn chế về năng lực quản trị, kỹ thuật thâm canh, sự sụt giảm hiệu quả tại các nhà máy chế biến và biến động giá cả trên thị trường đường thế giới. Tại tỉnh Cao Bằng nói chung và huyện Phục Hòa nói riêng, cây mía là cây trồng công nghiệp ngắn ngày chủ lực gắn liền với hoạt động của Nhà máy đường Phục Hòa. Mặc dù vậy, tập quán canh tác truyền thống, sự thiếu đồng bộ trong áp dụng quy trình kỹ thuật, hạ tầng giao thông vùng nguyên liệu xuống cấp và tình hình sâu bệnh hại đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng mía nguyên liệu và thu nhập của người nông dân.

Đề tài "Điều tra tình hình sản xuất mía tại thị trấn Hòa Thuận, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng" được tác giả Đinh Thị Bền thực hiện trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp ngành Trồng trọt tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của PGS. Luân Thị Đẹp.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:

  1. Tìm hiểu, đánh giá thực trạng sản xuất mía tại thị trấn Hòa Thuận, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2009 – 2013.
  2. Xác định những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất mía tại địa phương; từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật và tổ chức quản lý nhằm nâng cao năng suất, sản lượng mía, hướng tới phát triển vùng nguyên liệu bền vững.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể:

  1. Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và điều kiện khí tượng nông nghiệp ảnh hưởng đến sản xuất mía tại địa bàn nghiên cứu.
  2. Khảo sát diện tích, năng suất, sản lượng, cơ cấu giống, mức độ đầu tư phân bón, quy trình canh tác và tình hình sâu bệnh hại mía.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thâm canh mía cho người dân và cơ quan chuyên môn.
  • Đối tượng nghiên cứu: Cây mía và tình hình canh tác mía nguyên liệu của các hộ nông dân tại thị trấn Hòa Thuận.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thị trấn Hòa Thuận, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng (khảo sát chi tiết tại các xóm: Phia Xiếp, Bó Chiểng, Bó Từ, Nà Seo).
  • Phạm vi thời gian: Đợt điều tra thực địa tiến hành từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2014; số liệu chuỗi thời gian được thu thập trong giai đoạn 2009 – 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề dựa trên cơ sở sinh thái học cây mía và các nguyên lý thâm canh cây trồng nhiệt đới:

  • Đặc tính sinh thái cây mía: Cây mía thích nghi trong khoảng vĩ độ từ $35^\circ$ Bắc đến $35^\circ$ Nam. Nhiệt độ thích hợp cho từng giai đoạn sinh trưởng: nảy mầm ($20 - 30^\circ\text{C}$), đẻ nhánh ($26 - 30^\circ\text{C}$), vươn lóng tạo thân ($30 - 32^\circ\text{C}$), giai đoạn chín tích lũy đường cần biên độ nhiệt ngày đêm lớn ($14 - 25^\circ\text{C}$). Yêu cầu số giờ nắng tối thiểu 1.200 giờ/năm (tối ưu từ 2.400 giờ/năm trở lên), lượng mưa trung bình năm thích hợp từ 1.250 – 1.500 mm.
  • Phân vùng sinh thái sản xuất mía ở Việt Nam: Tác giả hệ thống hóa đặc điểm canh tác của 5 vùng sinh thái chính (vùng mía phía Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Trung du và miền núi phía Bắc, Miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ).
  • Tổng quan sản xuất mía đường: Sử dụng dữ liệu thống kê từ Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAOSTAT) và Tổ chức Đường Quốc tế (ISO) về diện tích, năng suất, sản lượng đường toàn cầu và Việt Nam qua các giai đoạn phát triển.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của UBND thị trấn Hòa Thuận (2009 – 2013), số liệu khí tượng huyện Phục Hòa (2013), số liệu quy hoạch và thu mua của Phòng Kế hoạch – Thống kê huyện Phục Hòa và Công ty Cổ phần Mía đường Cao Bằng (Nhà máy đường Phục Hòa).
  • Phương pháp điều tra sơ cấp: Ứng dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA - Rapid Rural Appraisal) và đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA - Participatory Rural Appraisal). Phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân trồng mía đại diện tại các xóm về diện tích, năng suất, lượng phân bón đầu tư và biện pháp kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Tổng hợp, phân loại, so sánh số liệu thống kê mô tả nhằm rút ra các chỉ tiêu trung bình về năng suất, sản lượng và hiệu quả canh tác.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần này làm rõ vai trò của ngành sản xuất mía đường đối với an ninh lương thực - thực phẩm, tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu cây trồng nông nghiệp vùng trung du, miền núi. Tác giả nêu rõ tính cấp thiết của việc đánh giá thực trạng vùng nguyên liệu Hòa Thuận, xác lập mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài điều tra.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả trình bày tổng quan tình hình sản xuất mía đường thế giới và trong nước. Dữ liệu giai đoạn 2009 – 2013 cho thấy diện tích mía thế giới tăng từ 23,70 triệu ha lên 26,52 triệu ha, năng suất tăng từ 71,19 tấn/ha lên 81,64 tấn/ha. Tại Việt Nam, diện tích mía tăng từ 265.400 ha (năm 2009) lên 309.900 ha (năm 2013), năng suất bình quân đạt 64,72 tấn/ha.

Tại huyện Phục Hòa, diện tích tự nhiên là 383,31 $\text{km}^2$, dân số khoảng 22.000 người, địa hình gồm đất đồi núi chiếm 90% diện tích trồng mía toàn tỉnh. Điều kiện khí tượng năm 2013 tại Phục Hòa ghi nhận: nhiệt độ trung bình năm $21,5^\circ\text{C}$ (tối cao $38,5^\circ\text{C}$, tối thấp $6,5^\circ\text{C}$), số giờ nắng trung bình 1.600 giờ/năm, độ ẩm trung bình 72,3%, lượng mưa trung bình từ 1.250 – 1.500 mm. Đây là điều kiện sinh thái thuận lợi cho cây mía phát triển và tích lũy đường vào mùa khô hanh.

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết địa điểm điều tra tại thị trấn Hòa Thuận trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 9/2014. Xác định cụ thể 4 nội dung điều tra thực địa và hệ thống các phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp qua điều tra RRA, PRA tại các nông hộ.

Phần 4: Kết quả điều tra

Nội dung chương 4 tập trung phân tích toàn diện các kết quả điều tra thực tế tại thị trấn Hòa Thuận:

  1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Thị trấn Hòa Thuận có đường biên giới giáp Trung Quốc dài 1,4 km, có Quốc lộ 3 chạy qua trên 10 km. Toàn thị trấn có 17 xóm/phố, 1.175 hộ dân với 4.400 nhân khẩu, gồm hai dân tộc chính là Tày và Nùng. Tổng diện tích tự nhiên 2.202,68 ha; trong đó đất nông nghiệp là 1.878,90 ha (gồm 800,69 ha đất lâm nghiệp), đất phi nông nghiệp 310,82 ha, đất chưa sử dụng 12,96 ha. Lao động nông nghiệp chiếm 85%.
TT Cây trồng Diện tích năm 2013 (ha) Tăng/giảm so với năm 2012 (ha)
1 Mía 377,0 +40,0
2 Ngô 141,0 +1,7
3 Sắn 55,1 -
4 Lúa 6,2 -3,0
5 Lạc 0,2 -
6 Thuốc lá 0,5 -
7 Dưa hấu 0,5 -

(Nguồn: Phòng Thống kê - Kế hoạch huyện Phục Hòa)

  1. Biến động sản xuất mía giai đoạn 2009 – 2013: Diện tích và năng suất có sự biến động qua các năm. Năm 2010 đạt năng suất thấp nhất (39,4 tấn/ha) do hạn chế mức đầu tư và canh tác theo tập quán cũ. Năm 2012 đạt năng suất cao nhất (75,3 tấn/ha) do áp dụng tiến bộ kỹ thuật.
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)
2009 322,63 50,8 16.437
2010 305,40 39,4 12.032
2011 260,87 53,2 13.878
2012 288,07 75,3 21.691
2013 346,05 64,8 22.424

(Nguồn: UBND thị trấn Hòa Thuận)

  1. Giá thu mua mía nguyên liệu: Nhà máy đường Phục Hòa phân loại thu mua 3 cấp chất lượng:
Loại mía Đơn vị 2009 2010 2011 2012 2013
Loại 1 Đồng/kg 800 800 850 1.000 1.000
Loại 2 Đồng/kg 750 750 800 950 950
Loại 3 Đồng/kg 700 700 750 900 900

(Nguồn: Phòng Nguyên liệu Nhà máy đường Phục Hòa)

  1. Cơ cấu giống mía (năm 2013):
Giống mía Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)
ROC22 281,66 66,0 18.589,5
Quế Đường 94/119 20,76 61,0 1.266,3
Quế Đường 94/116 16,37 60,0 982,2
ROC10 (giống cũ) 9,00 48,0 432,0

(Nguồn: Phòng Nguyên liệu Công ty CP Mía đường Cao Bằng)

Giống ROC22 chiếm tỷ trọng áp đảo (281,66 ha) nhờ khả năng chống chịu sâu bệnh, sinh trưởng mạnh và năng suất cao nhất. Giống cũ ROC10 chỉ còn 9 ha, được các hộ tại xóm Bó Từ duy trì để phục vụ nghề nấu đường phên truyền thống.

  1. Hiện trạng đầu tư phân bón: Mức đầu tư phân bón cho 1 ha mía tăng qua các năm. Năm 2011 bón 3.500 kg phân chuồng, 2.500 kg vi sinh, 500 kg đạm, 250 kg kali; đến năm 2013 tăng lên 5.000 kg phân chuồng, 3.000 kg phân vi sinh, 500 kg đạm, 300 kg kali. Khảo sát nông hộ cho thấy hộ bón nhiều phân chuồng và phân vô cơ cân đối (như hộ ông Lương Văn Giàu - xóm Bó Chiềng bón 5.000 kg phân chuồng, 900 kg đạm, 540 kg kali cho 1,8 ha ROC22) đạt năng suất 72 tấn/ha, cao hơn hẳn các hộ đầu tư thấp.

  2. Biện pháp kỹ thuật canh tác và phòng trừ sâu bệnh:

  • Kỹ thuật làm đất và mật độ: Cày sâu, làm đất tơi xốp, rạch hàng cách hàng 70 – 90 cm (hoặc 80 – 100 cm), rãnh sâu 25 – 30 cm; bón lót toàn bộ phân hữu cơ, vi sinh và 1/3 lượng đạm, kali; xử lý thuốc Basudin phòng trừ mối trước khi đặt hom.
  • Chăm sóc và luân canh: Thực hiện chăm sóc 3 lần kết hợp vun xới và bón thúc. Chế độ luân canh phổ biến: chu kỳ 4 năm (1 năm mía tơ + 2 năm mía gốc + 1 năm luân canh cây họ đậu) hoặc chu kỳ 5 năm (1 năm mía tơ + 3 năm mía gốc + 1 năm luân canh).
  • Sâu bệnh hại chính: Sâu đục thân (phòng trừ bằng làm đất kỹ, bón phân cân đối, phun Padan 95 SP, Supracid 40 ND khi cây còn nhỏ); Rệp xơ trắng (làm giảm 10 – 40% năng suất và hàm lượng đường, trừ bằng Supracid 40 ND, Bi 58 50 EC); Bệnh than đen (Ustilago scitaminea) và bệnh thối đỏ.
  • Thu hoạch: Thu hoạch thủ công khi mía đạt trên 11 tháng tuổi, chuyển lá sang màu vàng xanh, đốt ngọn sít lại; bó trọng lượng 23 – 25 kg/bó; không để mía đã chặt tồn đọng quá 3 ngày trên ruộng nhằm tránh giảm tỷ lệ thu hồi đường.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khóa luận tổng kết 5 kết luận về tiềm năng đất đai, thực trạng năng suất, cơ sở hạ tầng và hạn chế kỹ thuật; đồng thời đưa ra 4 nhóm đề nghị cụ thể về cơ cấu giống rải vụ, mô hình chuyển giao kỹ thuật, quản lý thu hoạch và đầu tư nâng cấp đường giao thông nội vùng.


Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa dữ liệu sản xuất mía địa phương: Cung cấp chuỗi số liệu thực tế về sản xuất mía tại thị trấn Hòa Thuận từ năm 2009 đến năm 2013, làm rõ sự biến động năng suất từ 39,4 tấn/ha (2010) lên 75,3 tấn/ha (2012) và đạt 64,8 tấn/ha (2013).
  • Phân tích cơ cấu giống và hiệu quả phân bón: Xác định giống ROC22 là giống chủ lực thích nghi tốt nhất (năng suất 66 tấn/ha, chiếm 86% diện tích mía điều tra); chỉ ra mối tương quan thuận giữa mức độ đầu tư phân hữu cơ, phân vi sinh và tỷ lệ bón N-P-K cân đối với năng suất thân cây thực tế tại các nông hộ.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững:
    1. Đối với nông hộ: Tăng cường kiểm tra đồng ruộng phát hiện sớm bệnh than đen, rệp xơ trắng, bọ trĩ; tuân thủ mật độ trồng và quy trình bón phân cân đối, chăm sóc phục hồi tốt cho diện tích mía gốc.
    2. Đối với cán bộ vùng nguyên liệu: Hướng dẫn kỹ thuật làm đất, rạch hàng đạt độ sâu quy chuẩn; kiểm tra quy cách đốn chặt và phân bổ phiếu đốn mía hợp lý, tránh dồn ứ nguyên liệu.
    3. Đối với Nhà máy đường Phục Hòa (Công ty CP Mía đường Cao Bằng): Cung ứng giống mới và phân bón trả chậm không tính lãi; hỗ trợ 100% giống đậu tương để nông dân thực hiện luân canh cải tạo đất mía; tổ chức điều phối phương tiện thu mua kịp thời vụ.
    4. Đối với chính quyền địa phương: Huy động công ích duy tu, sửa chữa các tuyến đường vận chuyển nội vùng bị hư hỏng, lầy lội trong mùa mưa; tổ chức hội thảo đầu bờ nhân rộng mô hình thâm canh hiệu quả.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Thời gian điều tra thực địa ngắn (từ tháng 6 đến tháng 9/2014), chưa theo dõi trọn vẹn toàn bộ chu kỳ từ khi làm đất, trồng mới đến hết kỳ thu hoạch và chế biến của niên vụ 2014 – 2015.
    • Số lượng hộ điều tra khảo sát chi tiết còn ở quy mô điểm hình tại 4 xóm đại diện (Phia Xiếp, Bó Chiểng, Bó Từ, Nà Seo), chưa bao quát toàn bộ 17 xóm/phố trên địa bàn thị trấn.
    • Đề tài chỉ dừng lại ở phương pháp điều tra, phỏng vấn nông học và tổng hợp số liệu thứ cấp, chưa bố trí các ô thí nghiệm đồng ruộng có đối chứng để xác định chính xác liều lượng phân bón tối ưu cho từng loại đất.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Thiết lập các thí nghiệm đồng ruộng nghiên cứu thử nghiệm các tổ hợp phân bón chuyên dùng (như phân viên nén tan chậm) trên từng chân đất đồi và đất ruộng chuyển đổi.
    • Nghiên cứu khảo nghiệm các giống mía mới có thời gian chín khác nhau (chín sớm, chín trung bình, chín muộn) nhằm xây dựng lịch rải vụ thu hoạch khoa học, cung cấp nguyên liệu liên tục cho nhà máy đường.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên các ngành Nông học, Trồng trọt, Khuyến nông, Phát triển nông thôn và Kinh tế nông nghiệp khi thực hiện các chuyên đề điều tra nông hộ hoặc quy hoạch vùng nguyên liệu cây công nghiệp ngắn ngày.
  • Nội dung giá trị:
    • Cung cấp số liệu thực tế về đặc tính sinh trưởng, năng suất của các dòng giống mía nhập nội (ROC22, ROC25, Quế Đường 94/116, Quế Đường 94/119, ROC10) tại vùng đồi núi biên giới phía Bắc.
    • Quy trình kỹ thuật canh tác chi tiết từ khâu làm đất, bón lót, chăm sóc 3 thời kỳ, chế độ luân canh cải tạo đất 4 – 5 năm với cây họ đậu đến kỹ thuật phòng trừ rệp xơ trắng và bệnh than đen.
    • Kinh nghiệm đánh giá thực địa vùng nguyên liệu gắn liền với nhà máy chế biến đường tại địa bàn miền núi.

Câu hỏi thường gặp

1. Giống mía nào chiếm diện tích lớn nhất tại thị trấn Hòa Thuận năm 2013 và năng suất đạt bao nhiêu?
Giống mía ROC22 chiếm diện tích lớn nhất với 281,66 ha (trong tổng số 327,79 ha khảo sát cơ cấu giống), đạt năng suất bình quân 66 tấn/ha và sản lượng 18.589,5 tấn.

2. Vì sao giống mía cũ ROC10 vẫn được duy trì gieo trồng tại địa phương dù năng suất thấp?
Giống ROC10 chỉ đạt năng suất 48 tấn/ha nhưng vẫn được người dân duy trì trồng trên diện tích 9,00 ha tại xóm Bó Từ để phục vụ nghề làm đường phên truyền thống của xóm, không dùng để cung cấp cho nhà máy đường công nghiệp.

3. Khó khăn lớn nhất trong khâu thu hoạch và vận chuyển mía tại thị trấn Hòa Thuận là gì?
Khó khăn lớn nhất là hệ thống đường giao thông liên vùng, liên xóm bị xuống cấp, nhiều ổ gà, sụt lở và lầy lội khi trời mưa. Vào thời điểm mưa nhiều, giáp Tết Nguyên Đán hoặc cuối vụ, mía chặt bị dồn ứ không kịp vận chuyển về nhà máy, dẫn đến hao hụt sản lượng và giảm chất lượng đường.

4. Chế độ luân canh cây mía được áp dụng tại thị trấn Hòa Thuận như thế nào?
Người dân áp dụng 2 công thức luân canh chính:

  • Chu kỳ 4 năm: 1 năm mía tơ + 2 năm mía gốc + 1 năm trồng luân canh cây họ đậu (đỗ, lạc, đậu tương).
  • Chu kỳ 5 năm: 1 năm mía tơ + 3 năm mía gốc + 1 năm trồng luân canh cây họ đậu. Việc luân canh giúp nâng cao độ phì của đất, cắt đứt nguồn sâu bệnh và hạn chế cỏ dại.

5. Loài sâu bệnh hại nào gây tổn thất nghiêm trọng nhất đến năng suất và hàm lượng đường của cây mía tại địa phương?
Rệp xơ trắng là đối tượng dịch hại nguy hiểm, thường bám dọc gân lá hút nhựa làm khô lá, cây suy yếu, làm giảm từ 10% đến 40% năng suất mía và làm giảm đáng kể hàm lượng đường trong thân cây.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Đinh Thị Bền đã phản ánh thực trạng sản xuất mía nguyên liệu tại thị trấn Hòa Thuận giai đoạn 2009 – 2013, chỉ rõ tiềm năng đất đai, vai trò chủ lực của giống ROC22 và hiệu quả của các biện pháp thâm canh phân bón. Nghiên cứu cũng nhận diện các rào cản về hạ tầng giao thông vận chuyển, thói quen trồng dày và tình hình sâu bệnh hại ảnh hưởng đến hiệu quả vùng nguyên liệu. Các giải pháp đề xuất về hỗ trợ phân bón, giống đậu tương luân canh và hoàn thiện liên kết giữa nông dân, chính quyền với Nhà máy đường Phục Hòa có tính ứng dụng thực tế cao đối với sự phát triển bền vững của ngành mía đường tại địa phương.