Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu Chương 3: Thực trạng vấn đề nghiên cứu Chương 4: Phương Pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 1.8 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Đề tài một phần nào đó giúp các nhà làm ngân hàng nhiǹ lại những nguyên nhân căn bản tác động đến rủi ro trong hoạt động cho vay tiêu dùng tín chấp, từ đó đề ra một số khuyến nghị để hạn chế rủi ro khi cấp tín dụng cho khách hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYÊT LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Giới thiệu chương Chương này trình bày những nền tảng lý thuyết cơ bản liên quan đến rủi ro và rủi ro tín dụng của ngân hàng, cũng một số khái niệm cơ bản về cho vay tiêu dùng tín chấp. Đây là cơ sở tạo dựng nền tảng để phân tích các chương sau.1 Những vấn đề liên quan đến rủi ro và rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm về rủi ro Theo Frank Knight: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được.Arthur William, Jr.Smith: Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả. Rủi ro có thể xuất hiện trong đa số các hoạt động của con người.
Khi có rủi ro người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả. Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định. Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước Theo Allan Willett: Rủi ro là bất trắc có thể liên quan đến những biến cố không mong đợi. Như vậy: “rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người, là sự bất trắc có thể đo lường được.
Rủi ro có thể mang tới những tổn thất, mất mát, nguy hiểm… cho con người nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội. Rủi ro có thể mang tính tích cực nhưng cũng vừa mang tính tiêu cực” 2.2 Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Hiệp ước Basel (1988) : “rủi ro tín dụng là rủi ro do tính không chắc chắn về khả năng hay sự sẵn sàng của đối tác trong việc đáp ứng các nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng” Theo Santomero (1997): Rủi ro tín dụng phát sinh từ việc không thực hiện nghĩa vụ của người đi vay. Nó phát sinh từ việc không có khả năng hoặc không có thiện chí để thực hiện các điều khoản trong hợp đồng đã được cam kết trước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Theo Thomas P.Fitch (1997): Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người đi vay không thanh toán nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ, đây là loại rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Theo Hellernan (2004): Rủi ro tín dụng là rủi ro mà mà người đi vay mất khả năng chi trả các khoản vay ngân hàng. Hầu hết các ngân hàng rơi vào tình trạng phá sản là do việc tăng quá cao tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ. Theo Gup, Kolari, Wiley & Son (2004): Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi khách hàng mất khả năng chi trả trong hoạt động tín dụng, từ đó gây tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng áp dụng cho cả các khoản vay, phái sinh, các giao dịch về tỷ giá hối đoái, danh mục đầu tư và và các hoạt động tài chính khác.
Đối với các khoản cho vay, thì rủi ro tiń dụng xảy ra khi người đi vay mất khả năng chi trả các khoản vay, gây tổn thất cho người vay. Theo Gestel và Baesens (2008): Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi người vay bị vỡ nợ và không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình. Rủi ro này xảy ra khi người vay không có khả năng trả nợ hoặc trả nợ không đúng hạn Theo A.Lange trong tài liệu “Financial Institutions Management – A modern Perpective” ( 2002) : Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và chất lượng Theo Henie Van Greuing và Soja Brajovic Bratanovic( 1999): Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng.
Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả chậm hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng 2. Yêu cầu của Basel về rủi ro tín dụng 2.1 Quá trình ra đời của hiệp ước vốn Basel Vào những năm 1980, do những dấ u hiê ̣u ca ̣nh tranh không lành ma ̣nh của hê ̣ thố ng NHTM trên thế giới. Nhằm tạo ra một cơ chế cạnh tranh bình đẳng và củng cố hoạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 động của hệ thống ngân hàng, một nhóm các ngân hàng Trung Ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ đã thành lâ ̣p Ủy Ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on banking Suppervision – BCBS).
Mỗ i năm ủy ban được nhóm họp bốn lần. Hội đồng thư ký của Ủy Ban Basel được đề xuất bởi ngân hàng thanh toán Quốc tế ở Basel, gồm 15 thành viên là những người giám sát hoạt động ngân hàng chuyên nghiệp được biệt phái tạm thời từ các tổ chức tín dụng tài chính thành viên. Ủy ban Basel và các tiểu ban là nơi sẵn sàng đưa ra những lời tư vấn cho các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng ở tất cả các nước. Những kết luận của Ủy Ban này không có tính pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động ngân hàng, Ủy Ban Basel cũng không có bất kỳ một cơ quan giám sát nào.
Thay vào đó, Ủy ban Basel chỉ xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất trong kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng rộng rãi thông qua những sắp xếp chi tiết phù hợp nhất cho hệ thống quốc gia của chính họ. Theo cách này, ủy ban khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng can thiệp vào các kỹ thuật giám sát của các nước thành viên. Ủy ban báo cáo thống đốc ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của nhóm G10. Từ đó tìm kiếm sự hậu thuẩn cho những sáng kiến của Ủy ban.
Một mục tiêu quan trọng trong công việc của Ủy ban là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc tế trên hai nguyên lý cơ bản là: (1) không ngân hàng nước ngoài nào được thành lập mà thoát khỏi sự giám sát; và (2) việc giám sát phải tương xứng.2 Rủi ro tín dụng theo chuẩn mực Basel Theo quan điể m của Basel thì rủi ro có nguyên nhân từ sự không chắc chắn về khả năng hoặc độ sẵn sàng của một đối tác thực thi các nghĩa vụ trong hợp đồng. Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Theo đó, tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu ( CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I. Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phảo đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường.
So với Basel I, cách tính chi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự đổi lớn. Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức ( từ 0-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng. Yêu cầu vốn tối thiểu = mức độ nhạy cảm x Trọng số rủi ro (%) x 8% Theo Basel 2, có các phương pháp đo lường rủi ro tín dụng sau: Phương pháp chuẩn hóa: phụ thuộc vào đánh giá của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập; Phương pháp này gần giống Basel I, tuy nhiên điểm khác biệt của Basel II sovới Basel I trong phương pháp này là: Basel I không đề cập đến xếp hạng tín dụng, các khoản vay tương ứng với từng hệ số rủi ro Basel II: đề cập đến xếp hạng tín dụng, không áp đặt hệ số rủi ro rõ ràng cho từng khoản mục mà còn tùy thuộc vào khoản mục đó được thực hiện với chủ thể nào, uy tín và xếp hạng tín dụng của chủ thể. Việc xếp trọng số bao nhiêu tùy thuộc vào mức độ tín nhiệm của chủ nợ ( từ AAA đến B – và không xếp hạng) như các cơ quan xếp hạng tín nhiệm quy định.
Basel II chia nợ thành 5 nhóm có thêm hệ số 150%, trọng số lần lượt là 0%, 20%, 50%, 100%, 150% Phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá nội bộ cơ bản: các ngân hàng đưa ra những khoản rủi ro ro ngầm định; Phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá nội bộ nâng cao: các ngân hàng đưa ra một loạt thông tin đầu vào về rủi ro 2.4 Phân loại rủi ro tín dụng: Nếu căn cứ vào khả năng giảm thiểu rủi ro, rủi ro tín dụng được chia thành hai loại là rủi ro có hệ thống và không có hệ thống. Theo Yurdakul (2013) thì rủi ro tín dụng mà ngân hàng đối mặt có hai thành phần chính, đó là rủi ro có hệ thống và không có hệ thống. Rủi ro hệ thồng bắt nguồn từ những thay đổi của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và ảnh hưởng đến tất cả các thị trường tài chính ( tiền tệ và vốn) và tất cả các chứng khoán ( tài sản tài chính) được giao dịch trên thị trường. Mặt khác, rủi ro tín dụng không hệ thống là rủi ro được tạo ra bởi một công ty hay các đặc điểm của ngành mà công ty đó hoạt động.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Các yếu tố như: khả năng quản lý yếu kém, phát triển công nghệ, phát minh mới và những thay đổi trong thị hiếu của người tiêu dùng có thể dẫn đến biến động không hệ thống. Rủi ro tài chính, quản lý, hoạt động và công nghiệp là những rủi ro không hệ thống ( Tuna, 2009).