phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận án gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại - Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động rủi ro tại Ngân hàng thƣơng mại cổphần Công thƣơng Việt nam - Chƣơng 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại Ngân hàngthƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam. Luan van 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Giới thiệu chƣơng: Chƣơng 1 trình bày những vấn đề cơ bản về rủi ro của ngân hàng thƣơng mại, các nguyên nhân, tác động của rủi ro tới hoạt động của ngân hàng thƣơng mại, đồng thời đƣa ra cơ sở lý luận về đánh giá rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại để làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng của chủ thể nghiên cứu tại Chƣơng 2. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại và hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại Luật Các Tổ chức tín dụng nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010, sửa đổi năm 2017) quy định: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một ho c một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Ngoài ra, cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: Ở Mỹ: Ngân hàng thƣơng mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) c ng đã định nghĩa: "Ngân hàng thƣơng mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công ch ng dƣới hình thức ký thác, ho c dƣới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính". Ở Việt Nam, Định nghĩa Ngân hàng thƣơng mại: Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền ký Luan van 8 gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán Nhƣ vậy NHTM làm nhiệm vụ trung gian tài chính đi vay để cho vay qua đó thu lời từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, nó thực sự là một loại hình doanh nghiệp dịch vụ tài chính, m c d các tổ chức tài chính trung gian khác c ng có một số chức năng tƣơng tự nhƣng ngƣời ta vẫn phải tách NHTM ra thành một nhóm riêng vì những lý do rất đ c biệt của nó nhƣ: chức năng huy động vốn thông qua phát hành các chứng chỉ tiền gửi, hơn nữa khối lƣợng séc hay tài khoản gửi không k hạn mà nó có thể tạo ra c ng là bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền tệ M1 của cả nền kinh tế.
Chức năng của ngân hàng thƣơng mại 1. Chức năng trung gian tín dụng, tập trung vốn cho nền kinh tế Trong nền kinh tế có những chủ thể có dƣ tiền và khoản tiền đó chƣa đƣợc sử dụng một cách triệt để (ví dụ nhƣ vẫn còn cất giấu trong nhà chƣa đƣợc mang ra lƣu thông) nhƣng họ c ng muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và có những chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doanh. Nhƣng những chủ thể này không quen biết nhau và c ng có thể không tin tƣởng nhau nên tiền vẫn chƣa đƣợc lƣu thông. Ngân hàng thƣơng mại với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ ngƣời muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho ngƣời muốn vay vay, trở thành cầu nối giữa những ngƣời có vốn dƣ thừa và những ngƣời có nhu cầu về vốn.
- Tổ chức kinh tế - Tổ chức kinh tế NGÂN - Doanh nghiệp - Doanh nghiệp Huy động Cấp HÀNG - Tổ chức xã hội nguồn vốn THƢƠN tín dụng - Tổ chức xã hội - Cá nhân, hộ gia G MẠI - Cá nhân, hộ gia đình đình Sơ đồ 1.1: Chức năng trung gian của của NHTM với các tổ chức Luan van 9 1. Chức năng trung gian thanh toán. Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khỏan. Khi các khách hàng gởi tiền vào ngân hàng, họ s đƣợc đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khỏan thanh tóan có giá trị lớn, ở mọi địa phƣơng mà nếu khách hàng tự làm s rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ: chi phí lƣu thông, vận chuyển, bảo quản…) - Ngƣời trả tiền - Ngƣời thụ hƣởng - Ngƣời mua hàng NGÂN - Ngƣời bán hàng Lệnh chuyển Giấy HÀNG - Tổ chức kinh tế, - Tổ chức kinh tế tiền THƢƠN báo có xã hội xã hội G MẠI Sơ đồ1.2: Chức năng trung gian của của NHTM với các cá nhân 1.
Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận nhƣ là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đ c th của mình đã vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền đƣợc thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động đƣợc để cho vay, số tiền cho vay ra lại đƣợc khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dƣ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn đƣợc coi là một bộ phận của tiền giao dịch, đƣợc họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Ngân hàng thƣơng mại tạo tiền phụ Luan van 10 thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ƣơng đã áp dụng đối với nhtm. do vậy ngân hàng trung ƣơng có thể tăng tỉ lệ này khi lƣợng cung tiền vào nền kinh tế lớn. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Hoạt động của NHTM có thể khác nhau về phạm vi và công nghệ, nhƣng nói chung hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm 3 lĩnh vực nghiệp vụ: nghiệp vụ tài sản có, nghiệp vụ tài sản nợ và nghiệp vụ môi giới trung gian. - Nghiệp vụ tài sản nợ: Nghiệp vụ tài sản nợ bao gồm các hoạt động liên quan với việc nhận vốn từ ngƣời gửi tiền và những ngƣời cho vay khác nhau tự quyết định mức góp vốn của mình, một cách thích hợp, vào một ngân hàng đ c biệt nào đó.
Nghiệp vụ tài sản nợ còn liên quan đến việc cung cấp cho các nhu cầu về thanh khoản thông qua việc chủ động kiếm thêm vốn vay, khi cần thiết ho c bán các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu chính phủ, chứng khoán, v. ở thị trƣờng thứ cấp. NHTM thực hiện nghiệp vụ này chính là d ng các biện pháp nhằm huy động, thu h t các nguồn vốn từ khách hàng trong nền kinh tế. Đây là nghiệp vụ quan trọng, tạo nên nguồn tài nguyên cho ngân hàng.
Trên cơ sở đó, ngân hàng sử dụng ch ng để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tƣ, v. - Nghiệp vụ tài sản có: Từ tài nguyên là các nguồn vốn có đƣợc từ nghiệp vụ tài sản nợ, NHTM sử dụng ch ng để đầu tƣ, cho vay, v.v… Do đó, nghiệp vụ này phản ánh việc sử dụng vốn của ngân hàng theo định hƣớng đảm bảo an toàn và sinh lời, cụ thể nhƣ sau: + Nghiệp vụ ngân quỹ (dự trữ tiền m t): Nhằm duy trì khả năng thanh khoản của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu r t tiền m t và thanh toán thƣờng xuyên của khách hàng. Mức dự trữ cao hay thấp t y - 19 - Giải pháp phát triển sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt thuộc vào quy mô hoạt động của ngân hàng, mối quan hệ thanh toán bằng tiền m t và chuyển khoản, thời vụ của Luan van 11 các khoản chi tiền m t. Có 3 loại dự trữ: Tiền m t tại kho của ngân hàng; Tiền m t ký gửi tại Ngân hàng Nhà nƣớc, Tiền đang trên đƣờng đi thu hồi.
+ Nghiệp vụ cho vay: NHTM vận dụng các loại hình cho vay khác nhau để tái phân phối quỹ cho vay nhằm cung ứng vốn tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế, phục vụ nhu cầu sản xuất, lƣu thông hàng hóa, dịch vụ, đời sống với mục đích thu đƣợc các khoản lợi nhuận chủ yếu để trang trải chi phí. Các nghiệp vụ cho vay cụ thể: Cho vay ứng trƣớc (cho vay trực tiếp hay cho vay tiền); Cho vay dựa trên việc chuyển nhƣợng trái quyền; bao thanh toán hay mua ủy nhiệm thu; Cho vay thấu chi; Cho vay theo thời vụ; Bảo lãnh ngân hàng; Cho vay tiêu d ng; Cho vay vốn lƣu động; Cho vay thuê mua (leasing) hay tài trợ cho thuê; Tài trợ ngoại thƣơng ; Cho vay kinh doanh bất động sản; - Cho vay cầm cố; H n vốn kinh doanh. - Nghiệp vụ đầu tư vào chứng khoán: NHTM thực hiện nghiệp vụ này bằng nguồn vốn tự có còn lại sau khi đã d ng vào các yêu cầu thiết yếu khi thành lập ngân hàng. Nghiệp vụ đầu tƣ mang lại nhiều lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng thông qua các loại hình đầu tƣ trực tiếp và đầu tƣ tài chính.
- Các nghiệp vụ khác: Một số nghiệp vụ mang tính dịch vụ và mang lại thu nhập cho ngân hàng là các khoản phí dịch vụ góp phần bổ sung và th c đẩy sự phát triển của NHTM, làm cho hoạt động của ngân hàng ngày càng hoàn thiện hơn, bao gồm dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ thanh toán, dịch vụ thu – chi hộ, dịch vụ ủy thác, bảo lãnh, tƣ vấn, đầu tƣ phát triển, thẩm định dự án, thu đổi ngoại tệ, chi trả kiều hối, v.