Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM - TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài *Nghiên cứu về kỹ năng và kỹ năng tổ chức hoạt động Kỹ năng là vấn đề được nhiều tác giả ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt từ nửa cuối của thế kỷ XIX sang đến thế kỉ thứ kỉ thứ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học trong đó có tâm lí học, giáo dục học, vấn đề kỹ năng được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn.
Nhìn tổng thể, có thể nhận thấy hai xu hướng chính: - Xu hướng thứ nhất: Nghiên cứu kỹ năng trên cơ sở của TLH hành vi Đại diện của xu hướng này là các tác giả như J. Watson, người sáng lập trường phái TLH hành vi đã khẳng định TLH phải lấy hành vi của con người – các dữ liệu có thể đo đạc được, quan sát được, dự đoán được để làm đối tượng nghiên cứu. Dựa trên quan điểm duy vật máy móc về con người, các nhà TLH theo chủ nghĩa hành vi mới đã nghiên cứu sâu hơn về cơ chế của hành vi. Cụ thể là nghiên cứu về điều gì đã xảy ra giữa S – R (kích thích – phản ứng hay hành vi) và đã chỉ ra những yếu tố tham gia vào quá trình tạo ra R là lý lẽ, ý định, chương trình, hình ảnh, tri thức… Những nghiên cứu của các nhà khoa học phương Tây về các vấn đề hình thành kỹ năng, kỹ xảo lao động đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao năng suất trong các nhà máy, xí nghiệp.
- Xu hướng thứ hai: Nghiên cứu kỹ năng trên cơ sở TLH hoạt động Kỹ năng là một trong những vấn đề được nhiều nhà TLH Xô viết nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau về kỹ năng nhưng chúng tôi nhận thấy có thể phân thành một số những nội dung nghiên cứu chính như sau: Nghiên cứu về điều kiện hình thành kỹ năng: Các tác giả như B. đều thống nhất rằng: điều kiện hình thành kỹ năng chính là các tri thức và kinh nghiệm mà cá nhân đã lĩnh hội được trước đó. Muốn hình thành kỹ năng ở một lĩnh vực hoạt động nào trước tiên phải có tri thức về hoạt động đó.
Trên cơ sở tri thức cộng với vốn kinh nghiệm đã có, nếu được luyện tập nhiều lần theo một định hướng nhất định sẽ cho các kỹ năng hành động như mong muốn. 11 Nghiên cứu về mức độ hình thành kỹ năng: Với công trình nghiên cứu “Hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho sinh viên trong điều kiện của nền giáo dục đại học” X.Kixegof đã phân tích khá sâu sắc khái niệm kỹ năng. Ông là người đầu tiên nêu lên sự phân biệt hai loại kỹ năng: kỹ năng bậc thấp (hay còn gọi là kỹ năng nguyên sinh) được hình thành qua các hoạt động giản đơn, nó là cơ sở hình thành kỹ xảo. Kỹ năng bậc cao (kỹ năng thứ sinh) – mà cơ sở của nó là tri thức và các kỹ xảo [9].
Nghiên cứu về kỹ năng tổ chức hoạt động là hướng nghiên cứu được phát triển từ đầu thế kỷ XX trở lại đây. Từ những năm 60 – 70, các nhà Tâm lý học Xô viết cũng chú ý nhiều đến kỹ năng tổ chức hoạt động. Đó là các nghiên cứu của N. Tài liệu “Những nguyên lý của công tác tổ chức” của P.Kecgientxev đã nghiên cứu về công tác tổ chức ở mức độ khái quát nhất.
Trong tài liệu, ông đã nêu lên cụ thể 7 yếu tố cơ bản của công tác tổ chức và đến nay vẫn được coi là những yếu tố nền tảng trong việc tổ chức hoạt động. * Nghiên cứu về hoạt đông trải nghiệm Hoạt đông trải nghiệm là một bộ phận của quá trình giáo dục toàn diện, góp phần phát triển toàn diện nhân cách cho thế hệ sau. Vấn đề phát triển con người toàn diện luôn được sự quan tâm của các nhà giáo dục nổi tiếng trong từng thời kỳ phát triển của lịch sử. Các nhà giáo dục ở các nước có nền giáo dục tiên tiến như Canađa, Mỹ, Ôxtrâylia, Singapor, Hàn quốc…đều luôn quan tâm đến sự phát triển toàn diện của học sinh.
Trong các trường học đều tổ chức các trung tâm văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, giáo dục kỹ năng sống… cho học sinh, tạo các điều kiện để học sinh được tham gia các hoạt động xã hội đa dạng và phong phú. Tuy nhiên theo quan điểm của họ đó là các hoạt động trải nghiệm mang tính tự nguyện, tình nguyện vì lợi ích xã hội chứ không phải là một chương trình giáo dục chính thức trong nhà trường. Hoạt động trải nghiệm được nhiều nhà khoa học L. Rogers, Kurt Lewin, John Dewey,.
đi sâu nghiên cứu. Các nhà giáo dục coi giáo dục qua trải nghiệm như là chiến lược giáo dục trẻ một cách hiệu quả.Vugotsky [90] cho rằng giáo dục cần phải dựa vào kinh nghiệm sẵn có của trẻ và đón trước được sự phát triển của trẻ để tác động giáo dục phù hợp, có hiệu quả. Ông cũng cho rằng mỗi cá nhân do thực tiễn cuộc sống và tố chất di truyền đều có kinh nghiệm nền tảng khác nhau, nó quy định tương đối tiềm năng của cá nhân. Tiềm năng đó thể hiện ở chỗ hễ có sự hỗ trợ thì làm được, nghĩ được, quyết định được và giải quyết được vấn đề.
12 Nếu không có hỗ trợ thì dù có biết là có vấn đề nhưng chưa đủ năng lực giải quyết. Nhờ sự tương tác, kinh nghiệm thường trực ở cá nhân được chia sẻ, được thử thách, được cải thiện dẫn cá nhân đến trình độ phát triển mới cao hơn.Piaget cho rằng sự phát triển của trẻ có được là thông qua hành động. Ông cho rằng khi trẻ tương tác với môi trường thì sẽ thu nhận được kiến thức mới, điều chỉnh và chính xác hóa những kiến thức đã có.Piaget đã đề cao vai trò của hành động, sự hiểu biết của trẻ được xây dựng từng bước thông qua sự tham gia tích cực của trẻ cũng như sự tương tác với các thành viên khác trong môi trường xung quanh trẻ. Rogers đề cao vai trò của học tập qua trải nghiệm.
Rogers liệt kê những điều kiện của học tập qua trải nghiệm: cá nhân tham gia, được đánh giá bởi người học, và các hiệu ứng rộng rãi đến người học. Kurt Lewin khi nghiên cứu về học tập qua trải nghiệm đã cho rằng học tập tốt nhất là trong môi trường và đặc biệt là từ những kinh nghiệm cụ thể. Ông quan tâm nhiều đến mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành. “Thực tiễn luôn là lý thuyết tốt”.
Ông cũng cho rằng gia đình và trường học có ảnh hưởng mạnh mẽ trong học tập qua trải nghiệm, kiến thức là cần thiết để thay đoi hành vi nhưng thay đoi thực sự đòi hỏi phải có một môi trường để rèn luyện, để trải nghiệm. John Dewey cho rằng trẻ em đến trường để làm việc và sống trong một cộng đồng, được tiếp nhận kinh nghiệm thực tiễn, hình thành và phát triển năng lực của mình để đóng góp cho xã hội. Dewey nhấn mạnh vai trò của kinh nghiệm, ý nghĩa kinh nghiệm cá nhân và mối quan hệ giữa kinh nghiệm cá nhân với hoạt động dạy học. Ông lập luận rằng chúng ta phải hiểu trải nghiệm xảy ra như thế nào để thiết kế và to chức hoạt động giáo dục có thể mang lại lợi ích của các cá nhân trong xã hội hiện tại và tương lai.
Như vậy, triết lí của John Dewey cho rằng mỗi trải nghiệm mới được xây dựng dựa trên kinh nghiệm trước đây và trở thành nền tảng tiếp theo tác động, ảnh hưởng đến trải nghiệm sắp tới trong tương lai. Đó là một chuỗi các trải nghiệm kế tiếp nhau, những hoạt động thực tiễn mà cá nhân đã trải qua để hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức, các giá trị cũng như các kiến thức hoặc hành vi cần thiết cho họ. Vai trò của các nhà giáo dục là tổ chức trải nghiệm cho đứa trẻ và khai thác các trải nghiệm để thực hiện mục tiêu giáo dục đã đặt ra.Vugotsky và John Dewey có những suy nghĩ khá giống nhau về vai trò kinh nghiệm cá nhân của đứa trẻ trong hoạt động lĩnh hội kinh nghiệm văn hóa xã hội của loài người nói chung, và giá trị đạo đức nói riêng. Hai ông đều xem con người là cái được hình 13 thành dưới sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội trong những tình huống cụ thể.
Deway đề ra khẩu hiệu “giáo dục bằng việc làm”, còn Vugotsky thì giáo dục bằng hoạt động. Ông yêu cầu cần phải cho trẻ tham gia vào các hình thức hoạt động đa dạng của cuộc sống. Kolb phát triển lí thuyết học qua trải nghiệm (ELT Experiential learning theory) trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, William James, Carl Jung, Paulo Freire, Carl Rogers, và những người khác. Ông đã đưa ra mô hình giáo dục qua trải nghiệm có tính tuần hoàn theo hình xoắn ốc theo 4 giai đoạn cơ bản.
Quá trình học tập phải liên tục, hoàn thành chu kỳ này dẫn đến kinh nghiệm mới, thiết lập một chu kỳ mới. Khung thời gian cho một chu kỳ thay đối với người học và phạm vi kinh nghiệm học tập. Nghiên cứu ở trong nước * Nghiên cứu về kỹ năng tổ chức hoạt động Vấn đề nghiên cứu về kỹ năng cũng được nhiều tác giả trong nước quan tâm, đặc biệt là trong những năm gần đây. Phần lớn các tác giả Việt Nam thường vận dụng những kết quả nghiên cứu của các tác giả Xô viết vào việc nghiên cứu kỹ năng trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể.
Điển hình là các tác giả: Trần Trọng Thủy, Nguyễn Như An, Lê Khánh Bằng, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành… đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về kỹ năng, vạch ra những hướng đi cơ bản ở góc độ lý luận cũng như thực tiễn cho nhiều đề tài nghiên cứu sau này. Nghiên cứu về kỹ năng tổ chức hoạt động cũng đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm đến. Tác giả Trần Quốc Thành nghiên cứu “Kỹ năng tổ chức trò chơi của chi đội trưởng chi đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh” [11]. Đây là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam đã vận dụng lý luận về kỹ năng, kỹ năng tổ chức để nghiên cứu kỹ năng tổ chức một hoạt động cụ thể - hoạt động trò chơi của thiếu nhi.