CHƯƠNG 1: TONG QUAN Cay dừa (Cocos nucifera) sinh trưởng và phát triển thích hop ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là các nước thuộc khu vực châu A — Thái Bình Dương như Ấn Độ, Srilanka, Indonexia, Philippin va Việt Nam, được trồng pho bién 6 vùng nhiệt đới, dọc bờ biển và các đảo trên 90 quốc gia, với hơn 11 triệu ha. Việt Nam nằm trong 10 quốc gia có diện tích trồng dừa lớn nhất thế giới. Điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng Việt Nam phù hợp cho cây dừa sinh trưởng, nhất là đồng băng sông Cửu Long và khu vực duyên hải miền Trung. Dừa là loại cây trồng có giá trị kinh tế, tất cả các phan của qua va thân cây dừa đều sử dụng được va là nguyên liệu cho nhiễu loại sản phẩm khác nhau.
Trọng lượng quả dừa phan lớn là xơ và nước dừa, nhưng giá trị nhất là cơm dừa. Cơm dừa được chú trọng khai thác tối đa dé ép lấy dầu làm nguyên liệu trong các ngành công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, nhiên liệu sinh học, sơn,. Nước dừa là nguyên liệu làm thạch dừa, giảm, thậm chí có thể làm dịch truyền, làm thức uống giải khát b6 dưỡng. Gao, thân, xơ và lá dừa có nhiều cách sử dụng khác nhau như làm than hoạt tính, đồ mỹ nghệ, hàng gia dụng, thảm xơ dira,.va chất đốt.
Cơm dừa sau khi ép lấy dầu, phần bã cơm dừa còn lại có thé là nguyên liệu tốt dé thu nhận chất xơ thực phẩm. Giới thiệu chung về chất xơ thực phẩm 1. Định nghĩa chất xơ thực phẩm Chất xơ thực phẩm đã được xác định bao gồm lignin và các thành phân của thành té bảo thực vật, các chất không bị thuỷ phân bởi các enzyme của hệ tiêu hoá (Trowell, 1972). Các polysacarit thực vật được chia thành polysacarit không phải tinh bột và polysacarit dạng tinh bột với các tính chất hoá lý khác nhau.
Tinh bột không phải là chất xơ do được thủy phân trong ruột non của người và sinh năng lượng.Chất xơ thực phẩm chỉ bao gồm lignin va các polysacarit không phải là tinh bột (NSP) (Cummings, 198la; Bright - See, 1988). Cac polysacarit không phải tinh bột có thé chia thành cellulose và các polysacarit không phải cellulose (NCP) như: hemicellulose, pectin, các chất keo, các chất nhay (Southgate va cộng su, 1978, Schneeman, 1986). Nguồn gốc và phân loại Chất xơ có nhiều trong trái cây, ngũ cốc, các loại rau, củ, quả, đậu. Mỗi loại rau quả chứa loại và lượng chất xơ khác nhau.
Loại rau quả nào càng nhiều bã và càng gia thì chứa cảng nhiều chất xơ. Chất xơ hiện diện trong vỏ và thành tế bào thực vật. Trong tế bào thực vật, chất xơ được chia thành hai loại là chất xơ không hòa tan (rất cứng và có dạng sợi) và chất xơ hòa tan (nhay, có dạng keo). Chất xơ không hòa tan: Bao gồm cellulose, hemicellulose và lignin, chúng là thành phan chính cau tao nên thành tế bào thực vật.
Nguồn cung cấp chất xơ thực phẩm tốt nhất là cám gạo, cám lúa mì, cám ngô, vỏ quả, các loại hạt, các quả có hạch và vỏ trái cây, các thực phẩm nguyên hạt, các loại đậu đỗ sây khô, cai bắp, củ cải, cà rốt, vỏ táo tây v. Chất xơ không hòa tan có đặc tính thâm thau nước trong ruột, trương lên tạo điều kiện cho chất bã thải dé thoát ra ngoài. Chat xơ hoa tan: Bao gém pectin, các chất keo và chất nhầy. Nguồn cung cấp chất xơ hòa tan tốt nhất là các loại trái cây, các loại rau xanh, vỏ quả họ cam chanh, bã táo và quả dâu tây, cám kiều mạch, đại mạch, cám gạo, vỏ hạt, các loại đậu sây khô, sữa đậu nành và các sản phẩm từ đậu nành v.
Chất xơ hòa tan khi đi qua ruột sẽ tạo ra thể đông làm chậm quá trình hấp thu một số chất dinh dưỡng vào máu và cũng làm tăng độ xốp, mém của bã thải tiêu hóa. Đặc điểm một số loại chất xơ phổ bién Pectin Pectin là một loại chat xơ hòa tan trong nước. Pectin không cung cấp năng lượng nhưng có nhiều giá trị trong công nghiệp thực phẩm và dược phẩm. Trong công nghệ thực phẩm, pectin được dùng để chế biến bánh kẹo cao cấp nhờ tính chất dễ tan trong nước.
Trong môi trường axit, pectin tạo keo vì vậy nó được dùng như một tác nhân đông đặc, tác nhân làm tăng độ nhớt của dung dịch. Trong công nghệ dược phẩm, pectin được dùng chế thuốc uống. thuốc tiêm (bắp, dưới da) để cầm máu trước và sau phẫu thuật răng hàm mặt, tai mũi họng, phụ khoa. Chữa chảy máu đường tiêu hóa, tiết niệu.
Dung dịch pectin 5% còn được sử dụng như thuốc sát trùng H5O, (nước oxy gia) trong phẫu thuật răng ham mặt, tai mũi họng (không gây xót và cam máu tốt) hay thắm bông nhét vào chỗ nhồ răng dé cầm máu. Trên thị trường hiện có biệt dược Hacmophobin (Đức) và Arhemapectin (Pháp). Bên cạnh đó, pectin còn có vai trò trong việc điều trị giảm cân ở người béo phì do kéo dài thời gian tiêu hóa thức ăn trong ruột, có tác dụng tăng hấp thu dưỡng chất trong thức ăn nhờ đó tạo cảm giác no bụng kéo dài, giảm năng lượng ăn vào. Mặt khác, pectin có tac dụng hạ cholesterol, ha LDL - loại cholesterol không có lợi cho tim mạch.
Ngược lại, pectin làm tăng HDL - chất có lợi cho tim mạch. Một chế độ ăn uống hằng ngảy giàu pectin (táo, bưởi, cam .) rất có lợi cho sức khỏe tim mạch, giảm nhẹ tinh trang tăng cao lipid máu, đường máu, giảm bớt được liễu lượng của các thuốc dùng hang ngày của bệnh nhân đái tháo đường, cao huyết áp hoặc cholesterol/lipid máu cao. Cac oligosaccharide Oligosaccharide là cacbohydrat, được cầu tạo từ 2 -10 phân tử đường đơn. Chúng bao gém: Gluco-, iso malto-, galato-, xylo-, inulo- va fructo-oligosaccharide.
Các oligosaccharidede thực phẩm được sản xuất hoặc băng con đường thủy phân polysaccharidethực vật bang axit hoặc enzyme hoặc được chuyển hóa từ các loại đường nhờ các enzyme chuyền glycosyl (transglycosylation). Các oligosaccharide chi chứa liên kết a- 1,4glucoside được gọi là malto- oligosaccharide. Khi chứa cả liên kết ơ- 1,4 và ơ- 1,6 glucoside chúng được gọi là oligosaccharide phan nhánh hay isomaltooligosaccharide. Một số chất xơ chuyển hoá Loại chất xơ chuyển hóa Nguồn gốc Chuyên hoá đường sucrose băng enzyme B-fructosidase của A.
Fructooligosaccharide niger Oligofructo Thủy phân một phan inulin thực vật bang enzyme Galactooligosaccharide Chuyén hoá dextransucrose từ vi khuẩn bang enzyme Tinh chất chung cua oligosaccharide «. Giam độ ngọt của cacbonhydrat « Khong bi phân hủy bởi các enzyme trong dạ dày và ruột non « Được sử dụng bởi nhóm vi khuẩn probiotic (Bifidobacteria) ¢ Lam thay đối độ nhớt và điểm đông đặc của thực phẩm ¢ Tac động đến khả năng nhũ hóa, khả năng tao gel và kha năng gắn kết của gel. e C6 khả năng ôn định hệ vi khuẩn ¢ C6 thé dùng làm chất mâu thực phẩm ¢ Dong vai trò như chat giữ âm và kiểm soát hàm âm. ¢ C6 tính chất tương tự như chat xơ thực phẩm « C6 giá trị calo thấp ¢ Dong vai trò như tác nhân chống lại bệnh sâu răng.
Cellulose Cellulose là chất xơ phố biến nhất trong tự nhiên, là cacbonhydrat cơ thé không có khả năng tiêu hóa, được tìm thấy ở lớp vỏ ngoài của các loại rau và trái cây. Chúng có tác dụng rất tốt trong việc ngăn ngừa bệnh trĩ, bệnh viêm ruột kết, chứng táo bón và loại bỏ các chất gây ung thư khỏi ruột kết. Cellulose được tìm thấy trong táo, các loại cải củ, các quả có hạch ở Brazil, cải xanh, carot, các loại rau họ đậu, đỗ và ngũ côc nguyên hạt. Cellulose là hợp chất tự nhiên khá bên, phan vô định hình không tan trong nước, bị trương lên do hấp thụ nước, phan kết tinh có cau trúc trật tự cao hon, bền vững với tác động vật lí, hoá học.
Trong tế bào thực vật thì cellulose liên kết chặt chẽ với hemicellulose, lignin, pectin. Dưới tac dụng của axit vô cơ loãng ở nhiệt độ và áp suất cao thì cellulose sẽ bị thủy phân thành glucose. Việc b6 sung cellulose vào khâu phan ăn sẽ gây cảm giác chóng no, giảm chất béo, trong dạ day chất xơ thường có dạng gel vì vậy làm chậm quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng của hệ tiêu hóa nên cũng gây cảm giác no lâu nhờ đó giảm nhu cau ăn của người bệnh. Hemicellulose Hemicellulose là một loại polymer phức tap va phân nhánh, độ trùng hop khoảng 70 đến 200 don phân.
Hemicellulose chứa cả đường 6 carbon gém glucose, mannose và galactose và đường 5 carbon gồm xylose và arabinose. Thành phân cơ bản của hemicellulose là B- D xylopyranose, liên kết với nhau bằng liên kết B-(1 4). Cau tạo của hemicellulose khá phức tạp và da dạng tùy vào nguyên liệu, tuy nhiên có một vài điểm chung gồm: - Mach chính của hemicellulose được cấu tạo từ liên kết B-(1 4). - Xylose là thành phan quan trọng nhất.
-_ Nhóm thé pho biến nhất là nhóm acetyl O — liên kết với vị trí 2 hoặc 3. - Mach nhánh cấu tạo từ các nhóm đơn giản, thông thường là disaccharide hoặc trisaccharide. Sự liên kết của hemicellulose với các polysaccharide khác và với lignin là nhờ các mạch nhánh này. Cũng vì hemicellulose có mạch nhánh nên tôn tại ở dạng vô định hình và vì thế dễ bị thủy phân.
Arabinoxylan HemicelluloseB Hình 1. Cau trúc của phân tử hemicellulose Hemicellulose là polysaccharide có trong vách tế bào thực vật, tan trong dung dịch kiềm và có liên kết chặt chẽ với cellulose, là một trong ba polyme sinh học phổ biến nhất của tự nhiên. Cùng với cellulose va lignin, hemicellulose tạo nên thành tế bào vững chắc ở thực vật. Vé cau trúc, hemicellulose có thành phan chính là D-glucose, D-galactose, D-mannose, D-xylose và L-arabinose liên kết với các thành phần khác bằng liên kết glycoside.
Hemicellulose còn chứa cả axit 4-O- methylglucuronic, axit D-galacturonic và axit glucuronic. Trong đó, đường D- xylose, L-arabinose, D-glucose và D-galactose là phô biến ở thực vật thân cỏ và ngũ cốc. Tuy nhiên, khác với hemicellulose của thực vật thân 26, hemicellulose 6 thuc vật thân co lại có lượng lớn các dang liên kết và phân nhánh phụ thuộc vào các loài và từng loại mô trong cùng một loài cũng như phụ thuộc vào độ tudi của mô đó. Tùy theo trong thành phan của hemicellulose có chứa monosaccharide nào mà nó sẽ có những tên tương ứng như manan, galactan, glucan va xylan.
Các polysaccharide như manan, galactan, glucan hay xylan đều là các chất phố biến trong thực vật, chủ yếu ở các thành phần của thành tế bào của các cơ quan khác nhau như 26, rom ra, V. Trong các loại hemicellulose, xylan là một polymer chính của thành tế bào thực vật, trong đó các gốc D-xylopyranose kết hợp với nhau qua liên kết B-1,4-D- xylopyranose. Da số phân tử xylan chứa nhiễu nhóm ở trục chính và chuỗi bên.