Đặt vấn đề Nước Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi với những cánh rừng nguyên sinh chạy dọc theo đất nước. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm cây cốt khí phát triển quanh năm. Đó là nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và quý giá. Theo các nhà thực vật học, nước ta có khoảng 12000 loài cây thuộc 2500 chi và 300 họ trong đó có hơn 5000 loại cây thuốc.TS trường Đại học Dược Hà Nội, Viện dược liệu Trung ương trong quá trình thực hiện điều tra, bảo tồn và phát triển cây thuốc, bài thuốc dân gian của đồng bào dân tộc Việt Nam, đã nhận thấy tiềm năng rất to lớn của cây thuốc trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Đây thực sự là lợi thế của ngành dược Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là bối cảnh dược liệu nhập khẩu liên tục mắc phải các vấn đề về chất lượng như bị rút bớt hoạt chất, bị nhiễm hóa chất bảo quản. Cây cốt khí (Polygonum cuspidatum Sieb.), họ Rau răm (Polygonaceae) của Đông Á gồm Nhật Bản, Trung Quốc và Triều Tiên là một loài thuốc quý trong cả Đông y lẫn Tây y. Cốt khí củ có vị đắng và chua, tính mát, có tác dụng khu phong, hoạt huyết, tiêu viêm, kháng sinh, chống virus, lợi tiểu, lợi sữa, chống ho, tiêu đờm. Tuy nhiên Cốt khí củ khi được thu hoạch về thường được sơ chế và bảo quản thủ công, gây ra hiện tượng hư hỏng, mốc mọt dược liệu.
Làm giảm chất lượng dược liệu, có thể gây nguy hiểm đến người bệnh khi sử dụng. Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu quy trình công nghệ sơ chế và bảo quản dược liệu cốt khí ”. Yêu cầu nghiên cứu - Xây dựng được quy trình công nghệ sơ chế và bảo quản dược liệu cốt khí. - Đánh giá được mức độ ảnh hưởng của nồng độ diêm sinh để xông sinh trước tiền sấy đến chất lượng cốt khí.
2 - Đánh giá được mức độ ảnh hưởng của nồng độ muối ngâm và thời gian ngâm dược liệu cốt khí trước tiền sấy đến chất lượng cốt khí. - Đánh giá được thời gian bảo quản của dược liệu cốt khí sau khi sấy và bảo quản màng. Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng được quy trình công nghệ sơ chế và bảo quản dược liệu cốt khí sau thu hoạch, đảm bảo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Sơ bộ đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian bảo quản dược liệu cốt khí qua các phương pháp sơ chế tiền sấy (xông sinh, ngâm muối), phương pháp sấy và bảo quản, qua đó làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.
Biết và hiểu rõ hơn về cách bảo quản dược liệu cốt khí, các thao tác kỹ thuật cũng như các thông số quy trình công nghệ trong quá trình thực hiện đề tài. Ý nghĩa thực tiễn Sau khi xây dựng quy trình công nghệ sơ chế và bảo quản dược liệu cốt khí, quy trình sẽ được chuyển giao tới các cơ sở chế biến dược liệu cốt khí đê bảo quản, tạo nguồn nguyên liệu cho ngành Y. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây dược liệu nói chung 2.
Khái niệm chung về dược liệu Dược liệu (cây thuốc) là một dạng đặc biệt của tài nguyên sinh vật, thuộc tài nguyên có thể tái sinh (phục hồi), bao gồm hai yếu tố cấu thành là cây cỏ và chi thức sử dụng chúng để làm thuốc và chăm sóc sức khỏe. Cây thuốc khác với cây cỏ bình thường ở chỗ nó được dùng để làm thuốc. Suy rộng ra đối với cây rau, cây để nhuộm, cây gia vị …v. cũng như vậy.
Tính từ sau danh từ “cây” chỉ công dụng của cây đó. Với định nghĩa này, một cây thuốc cần có hai yếu tố cấu thành, đó là bản thân là Cây cỏ, là nguồn gen hay yếu tố vật thể và tri thức để sử dụng cây đó để chữa bệnh, là yếu tố phi vật thể. Hai yếu tố này luôn đi kèm với nhau. Các sinh vật quanh ta rất nhiều, nếu không biết sử dụng chúng để làm thuốc (cũng như các ứng dụng khác trong đời sống) thì chúng chỉ là những sinh vật hoang dại sống trong tự nhiên.
Ngược lại, khi một cây đã biết dùng làm thuốc nhưng sau đó lại mất đi chi trức sử dụng (hoặc đưa đến một nơi mà không ai biết dùng) thì nó cũng chỉ là cây cỏ hoang dại trong tự nhiên. Một số cây dược liệu ở Việt Nam [7] 2. Cây Ba Kích Tên khoa học: Morinda officinalis How, thuộc họ: Cà phê - Rubiaceae. Có tên gọi khác là Dây ruột gà, Ba kích thiên, Liên châu ba kích, Chẩu phóng xì, Sáy cáy (Thái),.
Dây leo, sống nhiều năm, thân non màu tím, có lông, cành non có cạnh. Lá mọc đối, cứng nhọn, hình ngọn giáo thuôn dài 6 - 14cm, rộng 2,5 - 6 cm, lúc non màu xanh, có lông dài ở mặt dưới, sau đó ít lông và có màu trắng mốc. Quả tròn khi chín màu đỏ. Cây mọc hoang ở nhiều vùng rừng thứ sinh, trung du và miền núi các tỉnh phía Bắc, dưới tán một số kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh, nay trở nên thứ sinh gồm cây bụi và dây leo chằng chịt hoặc ở bờ nương rẫy.
Độ cao phân bô khoảng 100m so với mặt biển. Càng lên cao cây càng thưa dần, đến độ cao khoảng 1000m thì hầu như 4 hiếm gặp. Có nhiều nhất ở các tỉnh Quảng Ninh, Phú Thọ, Hòa Bình, Hà Giang, Lạng Sơn. Thành phần hóa học: Rễ tươi chưa chất đường, nhựa, axit hữu cơ, vitamin C, tinh dầu, anthraglycosid, phytosterol.
Nhưng trong ba kích khô không thấy có vitamin C. Bộ phận dùng: Rễ củ phơi hay sấy khô. Công dụng: Ba kích là vị thuốc bổ dương ủy, phong thấp cước khí, tăng cường sinh dục nam, chữa nhức xương khớp, đau khớp, đau lưng và kinh nguyệt không đều. Liều dùng: 12- 15 g, dưới dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu uống, cũng có thể phối hợp với các vị thuốc khác.
Cây Cốt Khí (Hổ Tượng Căn) Tên khoa học: Polygonum cuspidatum Sieb. Et Zucc, thuộc họ: Rau răm (Polygonaceae). Cây thảo sống quanh năm, cao 1 - 1,5m. Rễ phình thành củ cứng màu vàng nâu.
Thân có những đốm màu tím hồng. Lá mọc so le, có bẹ chìa ngắn. Hoa nhỏ, màu trắng, mọc thành chùm ở nách lá. Quả khô có 3 cạnh.
Cây mọc ở vùng Đông Á ôn đới, mọc hoang ở vùng đồi núi nước ta và thường được trồng nhiều ở nhiều nới để lấy củ làm thuốc. Bộ phận dùng: Rễ củ, phơi hay sấy khô. Công dụng: Cốt khí củ được dùng chữa phong thấp tê bại, đau nhức gân xương, chấn thương, ngã sưng đau ứ huyết, kinh nguyệt bế tắc, chữa mụn nhọt. Liều dùng 8 - 20 g/ngày, dưới dạng thuốc sắc, hoặc ngâm rượi uống thường phối hợp với các vị thuốc khác.
Củ mài Tên khoa học: Dioscorea persimilis Prain et Burkill, thuộc họ Củ nâu (Dioscoreaceae). Có tên khác là Hoài sơn, Sơn dược. Dây leo quấn; thân nhẵn, hơi có góc cạnh, màu đỏ hồng, thường mang những củ nhỏ ở nách lá (dái mài). Rễ củ đơn độc hoặc từng đôi, ăn sâu vào đất đến hàng mét, hơi phình ở phía gốc, vỏ ngoài có màu nâu xám, thịt mềm màu trắng.
Lá mọc so le hay mọc đối, hình tim, đôi khi hình mũi tên, không lông, dài 10cm, rộng 8cm, nhẵn, chóp nhọn, có 5 - 7 gân gốc. Cụm hoa đơn tính gồm các bông khúc khuỷu, dài 40cm, mang 20 - 40 hoa nhỏ màu vàng; hoa đực có 6 nhị. 5 Quả nang có 3 cánh rộng 2cm. Hạt có cánh mào.
Cây mọc hoang phổ biến ở miền Bấc và miền Trung của nước ta cho tới Huế. Còn phân bố ở Trung Quốc, Lào và Campuchi. Cũng được trồng nhiều ở đồng bằng để đáp ứng nhu cầu lớn về dược liệu, có thể trồng bằng gốc rễ hoặc hái mài về mùa xuân. Thành phần hóa học: Củ mài chứa tinh bột 63,25%, protein 6,75% và gluxit 0,45%.
Còn có mucin là một protein nhớt và một số chất khác như allantoin, cholin, arginin, men maltose, sanponin có nhân sterol. Bộ phận dùng: Củ đã loại bỏ vỏ Công dụng: Kiện tỳ vị, ích tâm phế, bổ thận, chỉ tả lỵ. Liều dùng: 10 - 20 g một ngày và thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác, sắc uống. Địa Liền Tên khoa học: Kaempferia galanga L, thuộc họ: Gừng (Zingiberaceae).
Có tên khác là Sơn nại, Tam nại, Thiền liền, Sa khương, Faux galanga (Pháp), Galanga Resurrectionily Rhizome (Anh). Cây thân thảo sống lâu năm, thân rễ hình trứng, gồm nhiều củ nhỏ. Lá 2 - 3 cái một, mọc xòe ra trên mặt đất, có bẹ, phiến rộng hình bầu dục, thót hẹp lại thành cuống, mép nguyên hơi có lông ở mặt dưới. Hoa trắng pha tím, không cuống mọc ở nách lá.
Toàn cây nhất là thân rễ có mùi thơm và vị nồng. Cây mọc hoang và được trồng ở một số địa phương nước ta. Thành phần hóa học: thân rễ chứa tinh dầu (2,4 - 3,9%), trong đó có p- methoxytranscinnamat ethyl, axitp-methoxytranscinnamic,axit transcinnamic, p-methoxysyren, axit p-coumaric, n-pentadecan, borneol, camphen. Bộ phận dùng: Thân rễ (củ) phơi hay sấy khô.
Công dụng: Có tác dụng làm nóng, chữa đau ngực, ăn uống khó tiêu, nôn mửa, cảm sốt. Hà Thủ Ô Đỏ Tên khoa học: Fallopia multiflora là một loài hà thủ ô thân mền, thuộc họ Rau răm (Polygonaceae), bộ Cẩm chướng (Caryophyllales). Tên gọi khác là Dạ hợp, Giao đằng, Thủ ô, Địa tinh, Khua lình (Thái), Mằn năng ón (Tày), Xạ ú sí (Dao). Rễ củ hình tròn, dài, không đều, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ đôi theo chiều dọc, hay chặt thành từng miếng ta.
Mặt ngoài có những chỗ lồi lõm 6 do các nếp nhăn ăn sâu tạo thành. Mặt cắt ngang có lớp bần mỏng màu mâu sẫm, mô mềm vỏ có màu đỏ hồng, có nhiều bột, ở giữa có lõi gỗ. Cây mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền núi tuwg Nghệ An trở ra, có nhiều ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang. Thành phần hóa học: Củ hà thủ ô chứa 1,7% anthraglycosid trong đó có emodin, physcion, chrysophanol, 1,1% protein, 45,2% tinh bột, 3,1% lipit, 4,5% chất vô cơ, 26,45 các chất tan trong nước, lecitin.
Bộ phận dùng: Rễ củ hay còn gọi là củ, sau khi đã chế biến. Công dụng: Hà thủ ô chữa suy thận, thiếu chức năng gan, thần kinh suy nhược, đau lưng và gối, đại tiện ra máu. Có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đổi chất lượng dược liệu trong quá trình sơ chế và bảo quản 2.