Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý thuế thu nhập từ chuyển nhượng QSDĐ ở Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập từ chuyển nhượng QSDĐ ở tại thành phố Thái Bình. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập từ chuyển nhượng QSDĐ ở tại thành phố Thái Bình. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP TỪ CHUYỂN NHƢỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở 1. Chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất ở 1.
Khái niệm, đặc điểm về chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở. Khái niệm đất ở: Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định: “Đất ở là đất để xây dựng nhà ở, các công trình phục vụ cho đời sống, đất vườn, ao gắn liền với nhà ở trong cùng một thửa đất thuộc khu dân cư (kể cả trường hợp vườn, ao gắn liền với nhà ở riêng lẻ) đã được công nhận là đất ở. Đất ở bao gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị. Trường hợp đất ở có kết hợp sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp (kể cả nhà chung cư có mục đích hỗn hợp) thì ngoài việc thống kê theo mục đích đất ở phải thống kê cả mục đích phụ là sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp”.
“Đất ở tại nông thôn là đất ở thuộc phạm vi địa giới hành chính các xã, trừ đất ở tại đô thị mới đã thực hiện theo quy hoạch phát triển các quận, thành phố, thị xã, thị trấn nhưng vẫn thuộc xã quản lý”, “Đất ở tại đô thị là đất ở thuộc phạm vi địa giới hành chính các phường, thị trấn, kể cả đất ở tại các khu đô thị mới đã thực hiện theo quy hoạch phát triển các quận, thành phố, thị xã, thị trấn nhưng hiện tại vẫn do xã quản lý”. Theo Luật Đất đai năm 2013, ngoài đất ở, còn có đất xây dựng khu chung cư “bao gồm đất để xây dựng nhà chung cư, xây dựng các công trình phục vụ trực tiếp cho đời sống của những hộ gia đình trong nhà chung cư và các công trình phục vụ cộng đồng theo quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt”. Với việc gia tăng dân số và hạn chế về quỹ đất như hiện nay, thì đất ở là một trong những loại đất được hướng tới để chuyển dịch mục đích sử dụng nhiều nhất. Nhằm quản lý chặt chẽ sự chuyển dịch mục đích sử dụng đối với đất ở, pháp luật hiện hành quy định việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất phi nông 7 nghiệp không phải đất ở sang đất ở là một trong các trường hợp phải được phép của cơ quan chức năng.
Khái niệm chuyển nhƣợng QSDĐ: Từ Luật đất đai 1993, Nhà nước thừa nhận QSDĐ là một loại tài sản đặc biệt, nó là một tài sản nhưng có tính cố định về vị trí, còn các tài sản khác có thể di chuyển vị trí được. Chính vì vậy, giá trị sử dụng của đất đai phụ thuộc rất nhiều vào vị trí của nó, đồng thời giá trị sử dụng của nó cũng giống như giá trị của các tài sản khác và phải được trao đổi bằng vật ngang giá, đó là đồng tiền. Đến Luật đất đai năm 2013: Chuyển QSDĐ là việc chuyển giao QSDĐ từ người này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho QSDĐ và góp vốn bằng QSDĐ. Hoạt động chuyển nhượng QSDĐ liên quan tới nhiều lĩnh vực như giao dịch dân sự, hoạt động kinh doanh thương mại, quản lý đất đai nên được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Như vậy chuyển nhượng QSDĐ thực chất là hoạt động chuyển QSDĐ khi chuyển giao QSDĐ từ người này sang người khác thông qua hình thức chuyển nhượng QSDĐ ở. Chuyển nhượng QSDĐ ở phải tuân theo các quy định của Pháp luật dân sự và Luật đất đai về điều kiện, nội dung, hình thức mới có giá trị pháp lý và được pháp luật bảo vệ. Đặc điểm chuyển nhượng QSDĐ ở: Thứ nhất, pháp luật quy định quyền chuyển nhượng QSDĐ ở của tổ chức, cá nhân được thực hiện dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội không có quyền sở hữu đất ở, họ được Nhà nước (đại diện chủ sở hữu) giao đất và quyền sử dụng để sử dụng ổn định lâu dài.
Người sử dụng đất được chuyển nhượng các quyền và nghĩa vụ sử dụng đất ở; việc chuyển nhượng QSDĐ ở chỉ được thực hiện sau khi người sử dụng đất được Nhà nước công nhận quyền sử dụng, cấp giấy chứng nhận QSDĐ ở. Thứ hai, đất đai có vị thế cố định không di dời được do vậy khác với các hàng hoá khác cần được đo đạc, lập hồ sơ thửa, đánh số, cấp giấy chứng nhận sử dụng đất hợp pháp. 8 Thứ ba, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai, có quyền điều tiết phần địa tô chênh lệch thông qua pháp luật về thuế để bảo đảm lợi ích của toàn dân đối với đất đai Điều tiết giá trị đất tăng lên không do người sử dụng đất tạo ra, mà do Nhà nước, do các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội tạo ra thông qua việc thu thuế thu nhập từ việc chuyển QSDĐ ở, thu lệ phí địa chính. Thứ tư, giá trị QSDĐ ở khi chuyển quyền sử dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí thửa đất, khả năng sinh lợi của đất.
Do vậy, cùng một diện tích nhưng vị trí khác nhau, khả năng sinh lợi khác nhau thì khi chuyển nhượng quyền sử dụng có giá cả khác nhau. Quy định pháp luật về chuyển nhượng QSDĐ ở 1. Nguyên tắc, điều kiện các bên trong hoạt động chuyển nhượng QSDĐ ở. Nguyên tắc chuyển nhƣợng QSDĐ ở Đất đai là tài nguyên quý hiếm, QSDĐ là một tài sản có giá trị đặc biệt trong nền kinh tế thị trường.
Do vậy, chuyển nhượng QSDĐ, trong đó có đất ở cần phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này xuyên suốt cả quá trình chuyển nhượng đòi hỏi cả cơ quan Nhà nước và các bên chuyển nhượng phải tuân thủ và tuân theo các nguyên tắc sau: - Nguyên tắc thứ nhất: Chủ thể sử dụng đất ở chỉ được phép chuyển nhượng đất ở cho những chủ thể khác theo pháp luật quy định và các bên có quyền thoả thuận về nội dung hợp đồng chuyển nhượng phù hợp với quy định của pháp luật. Khi chuyển nhượng QSDĐ ở các chủ thể phải tuân theo các quy định của pháp luật trong lĩnh vực đất đai, thể hiện trong việc nếu mảnh đất ở nằm trong quy hoạch thì giữa các chủ thể cũng không thể thực hiện hoạt động chuyển nhượng theo thoản thuận hay khi thực hiện hoạt động CN QSDĐ ở phải theo một trình tự nhất định như: hợp đồng phải qua công chứng, hồ sơ địa chính có xác nhận của chính quyền địa phương, nộp các khoản phí theo quy định… - Nguyên tắc thứ hai là bên chuyển nhượng phải có quyền sử dụng, việc chuyển nhượng QSDĐ phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của hai bên, đảm bảo lợi ích chính đáng của người sử dụng đất. 9 Trong quan hệ hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, mỗi bên chuyển nhượng đều có một mục đích riêng nhưng họ lại có một ý chí chung là cùng nhau thỏa thuận trao đổi QSDĐ lấy tiền để thỏa mãn những nhu cầu thiết thực của mình.
Sự thống nhất ý chí này được thực hiện một cách bình đẳng và chỉ khi giải quyết thỏa đáng lợi ích vật chất của cả hai bên thì mới thúc đẩy quá trình chuyển nhượng QSDĐ diễn ra một cách lành mạnh. - Nguyên tắc thứ ba là phải sử dụng đất đúng mục đích. Theo quy định của pháp luật, toàn bộ quỹ đất quốc gia đều nằm dưới sự quản lý của Nhà nước, việc quản lý sử dụng đất cần phải theo quy hoạch, kế hoạch thống nhất. Hàng năm, Nhà nước lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong đó hoạch định việc sử dụng đất cụ thể đối với từng loại đất để làm căn cứ giao đất, cho thuê đất.
Vì vậy, sau khi nhận QSDĐ, bên nhận chuyển nhượng phải tuân thủ quy định của Nhà nước về thửa đất chuyển nhượng, đó là phải sử dụng đúng mục đích phù hợp với quy hoạch kế hoạch sử dụng đất ở địa phương tại thời điểm chuyển nhượng. Điều kiện chuyển nhƣợng QSDĐ ở Điều kiện chuyển nhượng QSDĐ ở là sự ràng buộc của Nhà nước đối với các chủ thể tham gia quan hệ chuyển nhượng QSDĐ ở. Đó là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng và cần thiết để xây dựng quyền năng dân sự của người sử dụng đất ở. Đồng thời, đó cũng là chuẩn mực pháp lý cho các chủ thể đang sử dụng đất ở tự xem xét đối chiếu với những điều kiện của mình khi muốn thực hiện việc chuyển nhượng QSDĐ ở.
Các điều kiện mà Nhà nước đặt ra nhằm: - Bảo đảm quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai. - Ngăn chặn việc kinh doanh đất trái phép. - Ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất và tích luỹ đất trái phép. Theo Điều 188, Luật đất đai 2013 Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp QSDĐ; góp vốn bằng QSDĐ: “1.
Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp QSDĐ; góp vốn bằng 10 QSDĐ khi có các điều kiện sau đây: a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này; b) Đất không có tranh chấp; c) QSDĐ không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; d) Trong thời hạn sử dụng đất. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ; quyền thế chấp QSDĐ, góp vốn bằng QSDĐ còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp QSDĐ, góp vốn bằng QSDĐ phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”. Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ở.