CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, hoạt động giáo dục lao động – hướng nghiệp cho học sinh có từ hàng trăm năm nay và ngày càng phát triển Để có sự tuyển chọn đích đáng những người lao động cho nhà máy, xí nghiệp, cần phải đưa hướng nghiệp vào trường phổ thông.Crupxkaia, nhà giáo dục học và tâm lý học lỗi lạc người Nga đã từng nêu lên luận điểm “tự do chọn nghề” cho mỗi thanh niên. Theo bà, thông qua hướng nghiệp, mỗi trẻ em đều phải nhận thức sâu sắc hướng phát triển kinh tế của đất nước, những nhu cầu nào của nền sản xuất cần được thỏa mãn, những nhiệm vụ mà thanh thiếu niên phải đáp ứng trước yêu cầu mà xã hội đề ra trong lĩnh vực lao động sản xuất.
Những vấn đề hướng dẫn chọn nghề được đặt ra một cách rộng rãi ở nhiều nước với tính cấp thiết của nó vào những năm đầu thế kỷ XX. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp ở các nước như Nga, Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc. Theo UNESCO, hướng nghiệp là một quá trình cung cấp cho người học những thông tin về bản thân, về thị trường lao động và định hướng cho người học có các quyết định đúng đối với sự lựa chọn nghề nghiệp. Ngày nay, người ta đã nhận thấy chỉ cung cấp thông tin là không đầy đủ, mà cần phải chỉ ra sự phát triển về mặt cá nhân, xã hội, giáo dục và nghề nghiệp của học sinh (HS).
Một sự thay đổi khác có ảnh hưởng lớn đến hoạt động hướng nghiệp (HN) là nó được nhận thức như là một quá trình phát triển, đòi hỏi một cách tiếp cận chương trình chứ không chỉ đơn giản là các cuộc phỏng vấn cá nhân tại các thời điểm quyết định. 7 Ở Liên bang Nga, HN được thực hiện nhằm mục tiêu: Đảm bảo quyền tự chọn nghề của học sinh giúp các em tự thể hiện nhân cách trong điều kiện quan hệ thị trường; Tôn trọng hứng thú nghề nghiệp của con người cũng chỉ rõ nhu cầu của thị trường lao động; Không ngừng nâng cao trình độ thạo nghề của cá nhân như là điều kiện quan trọng nhất được thoả nguyện yêu cầu phát triển của con người trong lao động. Ở Nhật Bản, sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hoá phổ thông với kiến thức và kỹ năng lao động - nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Có khoảng 27,9% số trường phổ thông trung học vừa học văn hoá phổ thông vừa học các môn học kỹ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, ngư nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ vv… Sau cấp II có đến 94% học sinh vào cấp III, trong đó 70% học sinh theo học loại hình trường PT cơ bản và 30% HS theo hướng học nghề.
Tại Hàn Quốc, trong các loại hình trường phổ thông, nội dung giảng dạy kỹ thuật - lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chương trình GD. Hết cấp II học sinh sẽ đi theo hai luồng chính: phổ thông và chuyên nghiệp. Các trường kỹ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trước rồi mới chọn HS theo luồng phổ thông. Trung Quốc khuyến khích GD suốt đời một cách tích cực.
Hiện nay, GD dựa trên cộng đồng đang được phát triển mạnh mẽ. Trong chương trình giảng dạy thường có các môn học tự chọn với mục tiêu trang bị cho HS những kiến thức và kỹ năng chuyên môn cần thiết để HS có khả năng tham gia lao động nghề nghiệp ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau hoặc tiếp tục học lên trình độ nghề nghiệp cao hơn ở bậc đại học. Nội dung giáo dục HN trong trường trung học của cộng hoà Pháp được phân hoá theo nhiều phân ban hẹp trong đó phần lớn là các ban kỹ thuật - công nghệ đào tạo kỹ thuật viên. Kế hoạch dạy học ở các chuyên ban kỹ thuật - công nghệ bao gồm nhiều môn văn hoá PT và kỹ thuật nghề nghiệp theo tỷ lệ khoảng 50/50.
Việc cải cách chương trình GD công nghệ ở Pháp nhằm 8 hoàn thiện hệ thống GD kỹ thuật công nghệ ở tất cả các bậc học, làm cho nội dung GD công nghệ phù hợp với từng giai đoạn GD và trình độ phát triển khoa học kỹ thuật. Các công trình nghiên cứu đề cập đến các hình thức, phương thức hướng nghiệp trong nhà trường bao gồm: - Năm 1986, các tác giả H.Frankiewiez; Bernd Rothe; U. Marschneider đã đưa ra các phương thức: “Phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kĩ thuật tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho HS THPT” ; - Các tác giả R.Duismann đã có những công trình nghiên cứu về phương thức tổ chức cho HS phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, họ đã khẳng định: “Hoạt động dạy học, lao động – kĩ thuật – kinh tế không chỉ mang tính quan trọng đối với các môn khoa học khác, mà còn là bộ phận cấu thành cơ bản của giáo dục THPT… bởi vì nó đã tạo điều kiện cho HS phát triển thành những con người trưởng thành trong cuộc sống lao động – xã hội” - Năm 1996, tác giả Schmidt, J. Herring [108] khuyến khích các GV phối hợp định hướng nghề cho HS thông qua những bài giảng hàng ngày trên lớp; Tổ chức hoạt động tập thể hoặc các sự kiện đặc biệt như đi dã ngoại, lựa chọn sách, phim, clip, và các phương tiện đại chúng khác.
Với HS trung học, có nhiều chương trình sự kiện đặc biệt về nghề sẽ giúp HS hiểu được mối tương tác giữa những trải nghiệm của bản thân với những ước mơ, khát vọng thành công trong tương lai. Như vậy có thể thấy hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp (GDHN) đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, các công trình nghiên cứu về hướng nghiệp, GDHN đều khẳng định vai trò của hướng nghiệp đối với thanh niên, HS là giúp các em chọn được nghề phù hợp với năng lực, sở thích, hứng thú, khuyến khích kết hợp hướng nghiệp trong nhà trường với lao động sản xuất, 9 tham quan, thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp nhằm nâng cao nhận thức của HS về nghề mà các em gắn bó trong tương lai. Nghiên cứu ở trong nước Công tác hướng nghiệp được chính thức đưa vào trường phổ thông từ 19/03/1981 theo quyết định 126/CP của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông tốt nghiệp ra trường. Quyết định nêu rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ công tác hướng nghiệp, phân công cụ thể chính quyền các cấp, các ngành kinh tế, văn hóa từ trung ương đến địa phương có nhiệm vụ tạo mọi điều kiện thuận lợi trực tiếp giúp đỡ các trường phổ thông trong việc đào tạo, sử dụng hợp lý và tiếp tục bồi dưỡng học sinh phổ thông sau khi ra trường và thông tư 31-TT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện quyết định nêu trên.
Nội dung thông tư nêu rõ mục đích, nhiệm vụ và hình thức hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông, đồng thời phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên đang công tác tại trường phổ thông, cho dù đang đảm nhận chức vụ công tác nào đều phải hoàn thành nhiệm vụ được giao trong công tác giáo dục hướng nghiệp. Vấn đề hướng nghiệp cho học sinh ở các trường phổ thông không phải là vấn đề mới. Đây là một vấn đề được tất cả các cấp, ban ngành đoàn thể trong xã hội từ trung ương đến địa phương, các nhà quản lý giáo dục, các bậc cha mẹ học sinh và các em học sinh thực sự quan tâm. Việc nghiên cứu các biện pháp để nâng cao hiệu quả việc thực hiện nhiệm vụ này đã được các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục quan tâm.
Năm 1985 – 1987: Các tác giả Nguyễn Trọng Bảo, Đoàn Chi, Cù Nguyên Hanh, Hà Thế Ngữ, Tô Bá Trọng, Trần Đức Xước, Nguyễn Thế Quảng, Nguyễn Phúc Chỉnh đi sâu nghiên cứu việc tiến hành công tác GDHN trong các trường phổ thông và đề cập đến các hình thức GDHN, dạy nghề trong trường phổ thông và trung tâm KTTH-HN như tổ chức lao động sản xuất cho HS; tư vấn nghề nghiệp cho HS. 10 Từ năm 1996-2005: Nguyễn Viết Sự, Hà Thế Truyền đã đề cập các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kĩ thuật và hướng nghiệp ở trường phổ thông. Từ năm 2003- 2010, khái quát các kinh nghiệm hướng nghiệp của một số nước trên trên giới, có những đánh giá về công tác hướng nghiệp cho HS ở trường phổ thông và đã đưa ra những biện pháp về công tác GDHN ở Việt Nam giai đoạn 2005-2010 có các tác giả Phạm Tất Dong, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Như Ất, Lưu Đình Mạc, Phạm Huy Thụ, và sau này có Nguyễn Văn Lê, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân. Các luận án của các tác giả Nguyễn Thị Nhung (2009): “Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông miền núi Tây Bắc” ; Bùi Việt Phú (2009): “Tổ chức GDHN cho HS trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hóa”; Huỳnh Thị Tam Thanh (2009): “Tổ chức hoạt động GDHN cho HS bổ túc trung học phổ thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên theo định hướng phát triển nhân lực”; Phạm Văn Khanh (2012): “GDHN trong dạy học các môn học khoa học tự nhiên ở trường trung học phổ thông KV Nam Trung Bộ” đã tập trung nghiên cứu những biện pháp để nâng cao chất lượng GDHN trong nhà trường phổ thông theo các hướng khác nhau.
Các cuộc hội thảo khoa học, hội nghị chuyên đề do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh tổ chức như: “Đổi mới công tác lao động – hướng nghiệp phục vụ cho yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (7/2003); “Tổ chức giáo dục lao động – hướng nghiệp theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” (11/2001) đã nêu ra nhưng vấn đề thiết thực, gắn liền lí luận với thực tiễn.