CHƯƠNG I: NHÂN TÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HE VIET NAM - HOA KY (2000 - 2020) 1. Nhân tố khách quan Ngày 11/7/1995, Tống thong Hoa Ky Bill Clinton vả cỗ thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt đã tuyên bổ thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Sự kiện đã mở ra một chương mới trong lịch sứ hai nước. từ cựu thù trở thành bạn, đến đối tác; với những nỗ lực từ Chính phú vả nhân dân của hai nước, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ được thiết lập, trao đôi, hợp tác trên bình điện song phương và đa phương đem lại nhiễu lợi ich, góp phần vào nỗ lực đuy trì hòa bình, an ninh, ôn định, hợp tác phát triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương vả Đông Nam A, Những bước tiến trong quan hệ giữa hai nước là do sự tác động của nhiều nhân tố, dưới đây bài viết sẽ phân tích một số nhân tố cơ bản tác động đến quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 2000 - 2020.
Sự trỗi đậy của khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Chiu A - Thai Binh Duong, trong đỏ có Đông Nam Ả, là một khu vực đầy. tiểm năng phát triển trên thể giới. Ngay trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, các nước trên thể giới đã coi trọng sự phát triển của khu vực nảy, do tỉnh năng động của nên kinh tế, vỉ dụ điển hình như sự phát triển thẳn kỳ của Nhật Bản vảo cuối thập niên 60, sự xuất hiện của 4 con rằng châu Á la Han Quốc, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan vào cuối thập niên 70, kể tiếp ki Thai Lan, Malaysi Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, kinh tế khu vực này vẫn giữ được đà phát triển, đi theo nẻn kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, đối vởi những nước trước đây có nền kinh tế tập trung, bao cấp cũng đã chuyển sang nẻn kinh tế thị trường nhưng vẫn theo.
định hưởng xã hội chủ nghĩa. Sự thay đổi này, có ÿ nghĩa quan trọng trong việc đánh giá vai trò của châu Á - Thái Bình Dương và là cơ sở khách quan giúp các nước trong việc hoạch định chiến lược phát triển của minh trong những năm tới. Giới lãnh đạo Hoa Kỳ đã khẳng định “day là khu vực năng động nhất, không khu vực nào sẽ trở thành quan trọng hơn đối với chúng tôi không chỉ về phương. diện xuất khẩu và công ăn việc làm, mà cả về an ninh vả quá nhiễu lợi ích khác” (Lê Viết Hủng, 2012, tr.38) Sang thể ký XXI, hợp tác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương điễn ra sõi động từ liên kết khu vực đến hợp tác theo nhóm nước và song phương, tử chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế mở rộng ra các lĩnh vực chính trị, an ninh.
Bên cạnh đó, sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở khu vực nảy điễn ra gay gắt, kiểm chế lẫn nhau. Khu vực nảy cỏ tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thể gi sự phát triển năng động của khu vực được thể hiện qua hàng loạt các cơ chế hợp tác, liền kết trong khu vực. Có thể kể đến như Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) (1989), các cơ chế của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Thêm nữa, đặc điểm.
địa lý, quy mô kinh tế và tương lai phát triển không hạn chế là những nhân tổ quyết định để khu vực châu Á - Thái Bình Dương dẫn thay thể khu vực châu Âu - Đại Tây Dương, trở thành trọng tâm địa - chính trị toàn cầu. Năm 1978, Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách đất nước, và tăng tốc phát triển vào những năm cuối thế kỷ XX, đến năm 2000, nền kinh tế Trung Quốc. đã vượt qua Đức, Nhật Bản, trở thành nẻn kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, sau Hoa Kỳ, Trung Quốc dựa vào nền kinh tế phát triển ngảy càng mạnh mẽ, đã có những hảnh động nhằm thay đồi trật tự thể giới do Hoa Kỳ lãnh đạo va khởi xướng. Trung Quốc làm vậy xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, có thể kế đến như: *Thứ nhất, tắt cả các siêu cường nối lên trong lịch sử đều đã có cố gắng thay đổi trật tự quốc tế mả họ tin rằng trật tự đỏ đang đi ngược lại với các lợi ích quốc gia của những siêu cưởng này.
Trung Quốc cũng không là ngoại lệ khi thực hiện điều nảy, Thứ hai, Trung Quốc được kiểm soát bởi một chính phủ không chia sẻ giá trị nền táng như Hoa Kỳ vả các đồng mình”. (Ngô Xuân Bình, 2014. Có thể thấy rằng tham vọng của Trung Quốc đang thách thức trật tự phương Tây do Hoa Kỳ dẫn đầu, điều này khiến mối quan hệ giữa các nước trên thể giới trở nên căng thắng và cẩn trọng hơn. Đồng thời những tuyên bổ chủ quyền cúa Trung Quốc tại khu vực Biển Đông không tuân theo luật quốc tế, nều Trung Quốc có khả năng thực thỉ các tuyên bố chủ quyền của mình tại đây, sẽ biển Biến Đông trở thành sản chơi của mình, cũng như ngăn củn hoạt động tự do hàng hải.
Điều này thách thức một cường quốc biển toàn cầu như Hoa Kỷ. Vì vậy, đã dẫn tới sự hội tụ những lợi ích chiến lược giữa Hoa Kỷ và Việt Nam. Sự trỗi đậy mạnh mẽ của Trung Quốc trong nhiễu năm trở lại đây, và sự phát triển mạnh mẽ của khu vực châu Á - Thái Bình Dương khiển các nước lớn như Hoa Kỳ, Nga không ngừng tỉm cách để trở thành quốc gia thành viên của khu vực. Nhiều nhả phân tích cho rằng các nước Trung Á không giáp biển, địa lý khá khép kín cũng sẽ tìm cách trớ thành quốc gia châu Á - Thái Bình Dương.
Điều này khiển cho phạm vì của châu Ả - Thái Bình Dương không ngừng mở rộng về thành viên trên nền tảng ASEAN + N, hoặc Diễn đản hợp tác kính tế châu Á - Thái Bình Dương. xuất hiện xu hướng đa cực hóa giữa các nước lớn như Hoa Kỳ, “Trung Quốc, Nga, Ân Đồ, Nhật Bản. Đảnh giá sự tăng cường ảnh hướng của các cường quốc trong khu vực, cựu Đại sứ đặc mệnh toàn quyển Liên Bang Nga tại Nhật Bán, Giáo sư Alexander Panov cho ring: “Khu vue chiu A - Thái Bình Dương đang diễn ra quá trình chuyển dịch cơ cấu quan hệ quốc tế và cán cân lực lượng. Sự nỗi lên của Trung Quốc.
và sự suy yếu của Nhật Bản, việc Hoa Kỳ trở lại châu Á - Thái Bình Dương khiến cho tình hình trong khu vực thay đối. Tình hình bây giờ đã trở nên năng động hơn, it ôn định và hiện đang phát triển tự nhiê: (Ngô Xuân Bình, 2014. Hiện nay, cạnh tranh ảnh hưởng chiển lược cùng hợp tác phát triển là xu hướng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. khiến quan hệ giữa các cường quốc tăng đáng kế.
Điễn hình cho mối quan hệ này như Trung Quốc và Hoa Ky mic da van ton tại nhiễu mâu thuẫn về lợi ích chiển lược xong cũng có nhiễu lợi ích đan xen nên họ vẫn duy trì quan hệ vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vửa tiến hanh đổi thoại chiến lược về kinh tế vả an ninh, vừa tăng cường cạnh tranh về sức. mạnh, vị thể, ảnh hưởng, gia tăng cọ xát chiến lược nhưng tránh đối đầu trực tiếp. Chính sự gia tăng cạnh tranh, duy trì hợp tác cùng với quá trình tập hợp lực lượng của các nước lớn, đã tiếp tục thúc đây xu thể đa cực hóa đang hình thảnh trong quan hệ quốc tế. Cầu trúc an ninh của khu vực châu Ả - Thái Bình Dương là kiểu an ninh phức tạp với cục diện “nhất siêu đa cường” trong đó Hoa Kỳ là nhân tổ có ảnh hưởng lớn nhất dựa vào cơ chế an ninh đa phương vả hợp tác an ninh đa phương.
Sự cạnh tranh mạnh mẽ của Hoa Kỷ và Trung Quốc trên một loạt các lợi ích sống còn trong khu vực, là nhân tổ xác định quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực, và ở một mức độ nào đó có ảnh hưởng đến tương lai của quan hệ quốc tế toàn cầu. Đông Nam Á trong khu vực châu Á - Thải Bình Dương là một khu vực có. vị trí địa lý hết sức quan trọng, được ví như “ngã ba đường”. "ống thông gió”.
Án ngữ trên tuyến đường hàng hải từ Đại Tây Dương và Ản Độ Dương sang Thái Bình Dương. đồng thời nắm giữ một trong những tuyến đường buôn bản chú chốt trên toàn cầu - tuyển đường qua Biển Đông. “Trong 10 tuyển đường biên lớn nhất quốc tể hiện nay, có 5 tuyển đi qua và liên quan đến Biển Đông. hơn 90% lượng vận tải thương mại của thể giới thực hiện bằng đường biển thì 45% trong đó phải đi qua vùng Biển Đông.
Ngoài ra, Đông Nam Á còn có 4 trong 16 eo biển chiến lược của thể giới. Nằm ở trung tâm Biển Đông, bai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những vị tri có nhiễu tuyến đường biển nhất trên thể giới". (Hoang Van Hiển, 2021, tr46) Việt Nam là quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, nằm trên điểm nỗi giữa Đông Bắc Ả và Đông Nam A, nam trai dai trên bở Biển Dông với nhiễu tuyến vận tải quan trọng, có tiểm năng lớn cho phát triển kinh tế - xã hội nên có thẻ có tim ảnh hưởng khu vực. Giáo sư người Nga P.Pozner đánh giá: “Ai kiểm soát được Việt Nam thì người đó sẽ kiểm soát được cá Đông Nam Á*" (Viện Thông tin khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hỗ Chí Minh, số 46, 2006, tr.
vị trí sát biên giới Trung Quốc là yếu tổ làm cho vị trí địa lý của Việt Nam trở nên nhạy cảm hơn. Hơn nữa, Việt Nam có đường bờ biển dải, nên kinh tế phát triển trong nhừng năm gần đây, tiềm năng dầu mó và tầm quan trọng của tuyển đường hàng hải qua Biển Đông đã khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có vị trí địa - chính trị quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Trở thành nơi giao thoa lợi ích chiến lược của nhiễu nước lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Án Độ. Vị trí của Việt Nam ngày cảng được nâng cao trong khối ASEAN, điều nảy khiến Trung Quốc muốn mở rộng quan hệ với Việt Nam để gia tăng ảnh hướng đến tô chức này.
Ngoài ra, các nước lớn như Hoa Kỷ, Nhật Bán, An D6, Liên Minh châu Âu (EU) bên cạnh tăng cường cải thiện quan hệ với Việt Nam nhằm can dự sâu hơn vào các vấn để của khu vực Đông Nam Á; các nước nảy còn ra sức "lôi kẻo" Việt Nam để nhằm mục địch kiềm chế sức ảnh hưởng của Trung Quốc ngày một lớn tại khu vực và trên thế giới.