Chương 1 bao gồm: + Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về thể loại văn bản HDSD thuốc. Ngoài ra, luận án còn tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về nghĩa liên nhân trong văn bản qua phương tiện „thức‟ và „tình thái‟. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Cơ sở lý luận liên quan đến luận án gồm: (1) lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống; và (2) lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu. Chương 2 mô tả việc ứng dụng khung lý thuyết mà luận án đã xây dựng vào việc khảo sát và phân tích phương thức biểu hiện tương thích và không tương thích nghĩa liên nhân thông qua cách thức mà các kiểu loại thức hiện thực hoá các chức năng lời nói trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh và đối chiếu liên hệ với tiếng Việt trong cùng thể loại văn bản trên từng phương tiện ngôn ngữ, cụ thể là các kiểu loại thức hướng đến những hiểu biết về tiềm năng ngôn ngữ liên nhân trong thể loại văn bản HDSD thuốc trong hai ngôn ngữ.
Chương 3 mô tả việc ứng dụng khung lý thuyết mà luận án đã xây dựng vào việc khảo sát và phân tích phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong văn bản HDSD thuốc tiếng Anh qua phương tiện „tình thái‟. Luận án căn cứ trên cơ sở phương tiện ngữ pháp-từ vựng tình thái được lựa chọn sử dụng trong ngữ liệu nghiên cứu và đối chiếu liên hệ với tiếng Việt trong cùng thể loại văn bản. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN Trong chương này, chúng tôi tập trung vào việc chỉ ra ba mảng nội dung chính. Phần 1 là tổng quan tình hình nghiên cứu về văn bản HDSD thuốc từ các góc độ khác nhau, và tình hình nghiên cứu về thức và tình thái– hai phương tiện đặc trưng hiện thực hoá nghĩa liên nhân trong văn bản của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong và ngoài nước.
Phần 2 là cơ sở lý luận liên quan đến luận án bao gồm: lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống và lý thuyết đối chiếu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về văn bản HDSD thuốc Văn bản HDSD thuốc, một thể loại văn bản thuộc lĩnh vực y khoa, là nguồn thông tin thứ hai, chủ yếu dành cho người bệnh và gia đình người bệnh sau nguồn thông tin thứ nhất trực tiếp từ bác sỹ. Mặc dù chưa có một nghiên cứu nào về ngôn ngữ trong thể loại văn bản HDSD thuốc ở Việt nam, nhưng thể loại văn bản này đã thu hút sự chú ý của một số lượng không nhỏ các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trên thế giới từ các góc độ lý thuyết ngôn ngữ học khác nhau vì đặc tính đặc biệt và tầm quan trọng của nó đối với cộng đồng.
Nghiên cứu văn bản HDSD thuốc từ góc độ đặc điểm ngôn ngữ Một số nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của các tài liệu y khoa nói chung và tờ HDSD thuốc nói riêng. Tuy nhiên, không kể đến những lợi ích đạt được từ các văn bản HDSD thuốc đã được chứng minh, vấn đề tồn tại là người dân trong cộng đồng không thể tiếp cận được với ngôn ngữ của tờ HDSD thuốc do “tờ HDSD thuốc vẫn đang được kiến tạo cho đối tượng người đọc có trình độ đọc cao mặc dù số lượng văn bản này được sử dụng tăng lên” (Mumford, 1997: 990). Các văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc được cho là “khó hiểu và dễ dẫn đến hiểu lầm” cho người đọc do cách diễn đạt ngôn từ, sử dụng từ khó 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là những từ dài và thuật ngữ chuyên khoa, khối lượng thông tin lớn (Raynor, 2007); đặc điểm cung cấp thông tin về nguy cơ sử dụng thuốc còn kém (Berry, 2006; MHRA, 2005; Osimani, 2010); tính dễ hiểu của văn bản HDSD thuốc còn thấp (Askehave/ Zethsen, 2000; Cronin/O‟Hanlon/ O‟Connor, 2011; Horwitz/ Reuther/ Andersen, 2009); Văn bản HDSD thuốc là một thể loại văn bản „loạn chức năng/phản thường‟ (a dysfunctional genre) (Askehave/Zeth- sen, 2008: 171); những người sử dụng thuốc thường không đọc tờ hướng dẫn sử dụng thuốc do họ cho rằng chúng quá dài hoặc quá phức tạp (Raynor et al, 2007:2); không đáp ứng được yêu cầu của người bệnh (Hiệp hội người tiêu dùng, 2000; MHRA, 2005; Nicolson et al., 2006; Raynor et al., 2007); HDSD thuốc được cho là đã tạo ra cảm giác không thân thiện hay xa lạ với người sử dụng do khối lượng thông tin được cung cấp trong những văn bản thể loại này (Harrison and Harwood, 2004). Nghiên cứu văn bản HDSD thuốc từ góc độ đánh giá chất lượng văn bản Chức năng và tính hữu dụng của thể loại văn bản HDSD thuốc từ góc độ của người sử dụng đã được các nhà ngôn ngữ học nỗ lực chứng minh.
Trong đó, một số nghiên cứu đã sử dụng công thức đo lường đánh giá mức độ dễ đọc của ngôn bản như FOG, Flesch và SMOG (Ley, 1988; Davis et al., 1990; Meade and Smith, 1991; Payne et al., 2000; Buchbinder et al. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng mặc dù các công thức như FOG, Flesch và SMOG là “một công cụ hợp lý”; và "phổ biến trong nghiên cứu trong y khoa" nhưng chúng không thể phân biệt giữa kiểu loại văn bản và ngôn cảnh của văn bản, và các công thức này đều không xét đến ngôn cảnh và văn hóa. Tuy nhiên, bên cạnh những khuyến khích sử dụng các công thức này trong đánh giá mức độ dễ đọc, dễ hiểu của văn bản giúp nâng cao chất lượng văn bản HDSD thuốc, còn có nhiều quan điểm nghi ngờ về tính khả thi khi áp dụng chúng trong phân tích văn bản là những tài liệu liên quan tới sức khoẻ cho cộng đồng (Vivian and Robertson, 1980; Zion, 1989; Smith et al. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các học giả cho rằng việc đo lường mức độ dễ đọc của văn bản còn liên quan tới rất nhiều các thông số khác chứ không chỉ là những thông số được chỉ ra trong các công thức này (Spiro et al., 1980; Duffy, 1985; Davison and Green, 1988).
Các công thức này không xem xét cấu trúc hoặc tổ chức toàn diện của văn bản, cũng như không xét đến từ vựng chuyên ngành là những thuật ngữ y khoa được sử dụng, và không tính đến kiến thức có sẵn từ trước của người đọc về lĩnh vực hoặc tầm quan trọng của mối quan hệ vai diễn giữa phía người viết và phía người đọc. Nghiên cứu văn bản HDSD thuốc từ góc độ ngôn ngữ học chức năng hệ thống Từ quan điểm lấy người bệnh làm trung tâm phục vụ của ngành y tế, một số nghiên cứu sử dụng khung lý thuyết chức năng hệ thống đã được công bố nhằm xây dựng “Khung đánh giá ngôn ngữ để đánh giá chất lượng ngôn ngữ trong văn bản HDSD thuốc điều trị dựa trên lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống”. Kết quả nghiên cứu của Clerehan và cộng sự (2005) chỉ ra rằng "tờ HDSD thuốc đóng vai trò rất quan trọng trong trợ giúp trao đổi lời nói giữa bác sĩ và người bệnh. Giá trị của chúng phụ thuộc vào việc liệu chúng có chứa thông tin hữu ích từ quan điểm của người bệnh hay không và có dễ hiểu hay không” (tr.
Một nghiên cứu khác của Clerehan và Buchbinder (2006) tập trung vào 18 bộ tờ Hướng dẫn sử dụng thuốc được viết ở Úc và sử dụng lý thuyết chức năng hệ thống như một công cụ để đánh giá tính toàn diện của thông tin. Các cấp độ ngôn ngữ Clerehan và cộng sự (2006) sử dụng để nghiên cứu các văn bản HDSD thuốc là thể loại, ngữ vực, ngữ nghĩa và ngữ pháp-từ vựng. Cụ thể, Clerehan và cộng sự (2006: 44 - 45) kết luận như sau: “Văn bản HDSD thuốc là một thể loại văn bản hay nói một cách khác là một tiểu thể loại của thể loại văn bản hướng dẫn chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng”. Ngoài ra, tác giả còn đi sâu khảo sát tìm hiểu các vấn đề liên quan đến các đặc điểm ngôn 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngữ của thể loại văn bản này gồm: từ thuật ngữ chuyên khoa (lựa chọn từ vựng); đặc điểm người viết – người đọc và mối quan hệ vị thế ("giả định của tác giả về vị trí tương đối của người viết và người đọc trong thế giới thực"); các yếu tố trực quan, tiêu đề và mật độ thực từ (chất lượng của văn bản); đề ngữ (theme) ("những gì người viết lấy làm điểm khởi đầu thích hợp cho các mục đích của thông điệp mà họ muốn cung cấp").
Tiếp theo các nghiên cứu trước, Hirsh và cộng sự (2009) đã xây dựng “Khung ngôn ngữ đánh giá (ELF) để đánh giá chất lượng ngôn bản HDSD thuốc điều trị dựa trên lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống bằng cách tiến hành phân tích đề ngữ (theme)” (tr. Kết luận của nghiên cứu được tóm tắt như sau: “Các tờ HDSD thuốc có chất lượng cao, có tính đến các biến thể quan trọng của ngôn cảnh, có cấu trúc ngôn bản thống nhất và mối quan hệ giữa người viết - người đọc sẽ có thể hỗ trợ tốt hơn cho người bệnh giúp họ sử dụng thuốc thích hợp. Tờ HDSD thuốc là một thể loại văn bản hướng dẫn chăm sóc y tế có cấu trúc các phần thống nhất và có tính quy ước ”. Tình hình nghiên cứu về nghĩa liên nhân trong văn bản qua phương tiện thức và tình thái 1.
Ở ngoài nước Lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống được M.K Halliday xây dựng từ giữa thế kỷ XX và được xem là một trong những lý thuyết ngôn ngữ có ảnh hưởng rất sâu rộng trên thế giới ngày nay (cf. Nghĩa liên nhân từ lâu đã thu hút nhiều nhà ngôn ngữ học sử dụng làm đối tượng nghiên cứu trong nhiều diễn ngôn của nhiều ngôn ngữ, trong đó không thể không kể đến các nhà ngôn ngữ học theo trường phái chức năng hệ thống. Đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ học áp dụng siêu chức năng liên nhân trong nghiên cứu của mình trong các lĩnh vực khác nhau, trong đó phải kể đến Martinet 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (1960) với nghiên cứu về các cuộc phỏng vấn phát thanh với các chính trị gia, Leech (1966) và Cook (1992) về diễn ngôn quảng cáo trong tiếng Anh, Coates (1983) về ngữ nghĩa của các trợ từ tình thái, và Bybee (1995) về tình thái trong ngữ pháp và diễn ngôn. Ngoài ra nghĩa liên nhân còn được khảo sát trong các văn bản thể loại viết thông qua hai phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng là thức và tình thái.