chương 1 thể hiện những khái niệm chung về đầu tư nói chung và suất vốn đầu tư nói ig trong công tác quản lý một dự án đầu tư xây dựng. Ở chương 2 tắc giả sẽ giới thiệu về thực trang công tắc lập và xây dung Suit đầu tư ở nước ta trong thời gian qua cũng như tình hình sử dụng suất vốn. trong công tác quản lý đầu tư xây dựng ở nước La hiện nay. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG Vi VIỆC ÁP DỤNG SUAT VON BAU TƯ XÂY DỰNG CONG TRÌNH THỦY ĐIỆN DO NHÀ NƯỚC BAN HANH 21.
Tỉnh hình đầu tư xây dựng các công trình thủy ai ở nước ta trong thời gian qua Cu trình phát triển thủy điện Việt Nam gắn két với quá trình phát triển điện lực Việt Nam qua các giai đoạn vừa qua, từ sau năm 2000, khi thực hiện tổng sơ đồ 5 (TSDS) và (TSD6), thủy điện Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển. ing nỗ, dai qui mô”, ở By tác giá chỉ nêu vải nt về sự tham gia của thủy điện vào các thời kỳ phát triển, công tác qui hoạch nguồn thủy năng và tổng quát về hiệu ích của phát triển thủy điện Thủy điện Việt Nam biện diện từ trước 1954 với qui mô rất nhỏ bé, ở miễn Bi có thủy điện Ta Sa (250 kW) và Nà Ngẫu (300 kW) phục vụ Khai thác mé thiếc Tinh Túc (Cao Bing). Năm 1913, Lablé, một kỹ sư người Pháp, nghiên cứu khai thắc nguồn nước tự nhiên thác Te] An, khoảng 3 000 kW, nhưng không được xét duyệt. Sau đó, họ nghiên cứu xây đụng thủy điện Auhroet(Suối Vàng) đưa vào vận hình năm 1943 với công suất ban đầu 500 kW cung cấp điện cho thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng).
Từ 1954 đến 1975, là thời kỷ khởi 1 nghiên cứu toàn diện về khai thác thủy năng ở hai min đắt nước. Kết quả là + Ở miễn Nam, đến cuối 1975, cỏ thủy. lên Dachira 160 kW điện lượng 1 200 vi Suối Ving đã nâng cắp lên 3 100 KW điện lượng 14 Gvh, +6 miền Bắc, đến cuối 1975, có thủy điện Thác Ba 108 KW điện lượng 420 Gwh, thủy điện Cắm Son 3 900 kW và (hủy điện Bản Thạch 960 kW. Tuy nhiên, sau khi thống nhất đắt nước (1975), kế hoạch năm năm 1975-1980 là thời ky khôi phục kinh t, chuẩn bi cho giai đoạn phát triển điện lực nối chung và thủy điện nói riêng.
Thủy điện Hòa Bình, với công suất 1 920 kW điện lượng sản xuất 8 tỷ kWh được chuẩn bị từ những năm đầu 1970, đến 30/12/1978 thiết kế kỹ thuật được duyệt và 6/11/1979 lễ khởi công chính thức được tiền hành. Bộ Thủy lợi theo chức năng của mình lập nhiệm vụ ti kế thủy điện Trị An tạo cơ sở thuận lợi cho các bước phát tiễn sau. Thủy điện Thác Bà và Dachira được sửa chữa ning cấp. Từ 1931, Bộ Diện lực (và sau này là Bộ Năng lượng, EVN) đã tiền hành lập ‘TSD phát trién điện lực Việt Nam từng 5 năm.
Ở thời iim đó, din lực là ngành đầu tiên của toàn quốc, xây dựng và phát triển điện lực theo kế hoạch đầi hạn ~ 5 năm. Ở giai đoạn đầu thành lập TSD (1931-1985 và 1986-1990), Liên Xô giúp ta lập và là ea sở để Chính phủ hai nước, Liên Xô và Việt Nam, ký kết hiệp định cung cấp thiết bị. Từ sau 1990, Việt Nam tự lực lập TSĐ phát triển điện lực các giai đoạn, cho đến ngày nay. Nồi chung, chất lượng lập TSĐ là ở mức cao, dip ứng “được yêu cầu phát triển kinh tế trong các giai đoạn.
Tuy nhiên, từ sau 2000, đặc biệt là tir 2005 đến nay, tốc độ nhu cầu điện ting rit nhanh, nhiều công tình đưa vào hành chậm với nhiễu nguyên nhân khách quan và chủ quan, nên đã ảnh hưởng én chit lượng TSĐ, - Trong giai đoạn 1981-1985 (TSĐ1), thủy điện Hòa Bình - Trị An ở giai doan xây dựng, tham gia vào cung cắp điện năng vẫn chủ yêu là thủy điện Thác Bà — Đa Nhim, = TSD2 (1986-1990), thủy điện đạt 5 368,7 Gwh chiếm 61,86% tổng điện năng sản xuất 8 6735 Gwh, do cổ thêm hai ổ mấy liên Bình (480 MW), Tri An (400 MW). - TSD3 (1991-1995), thay điện đạt 10 581,8 Gwh chiếm 72.29% tổng điện năng sản xuất 14 637,2 Gwh là do Hòa Binh tim tổ may(1920 MW ~ 6 859 Gwh), Tri An (400 MW), Thác Mơ (150 MW), Vinh Sơn (66 MW), An Điểm (5.4 MW), Dray Linh (12 MW), đường day 500kV Bắc Nam hoàn thành năm 1994, tạo lập hệ thống điện thống nhất toàn quốc, tạo điều kiện phát huy hết công suit, điện lượng thủy điện Hỏa Binh dat 1 920 MW và 8 tý kWh năm 1996-1997 = TSD 4 (1996-2000), tham gia thêm vào TSD có thêm : hủy điện Yaly hai tổ máy ~ 360MW, Sông Ninh 70 MW thủy điện đạt 14 539 Gwh chiếm 58, tổng điện năng sản xuất của EVN là 24,916 Gwh. - TSDS (2001-2005), một chương trình phát triển thủy điện "đại qui mô” được. Tir 2001 các thủy điện được đưa vào vận hành thêm là Hàm Thuận ~ Da Mi (475 MW), Yaly vận hành bốn tổ máy (720 MW), Do năm 2005 là năm it nước, thay điện Đa Nhim sửa chữa nâng cấp, nên điện lượng sản xuất thủy điện giảm sit so với các năm trước như Năm 2001 2003 2003 2004 2005 Chỉ tiêu Điện sản xuất EVN 28.
40243 4l 185 “Thủy điện EVN 18169 18205 1900 17713 16173 5 6390 5405 4843. 4401 3927 Nếu kể cả các thủy điện ngoài EVN, có Cần Đơn (73 MW) và các thủy điện nhỏ như Na Loi ~ Nậm Ma, thi điện lượng sin xuất thêm ở thủy điện là 364 Gwh 6 năm 2008. “Theo đánh giá của EVN, chương trình phát triển nguồn điện ở TSDS, thì giai doan 2001-2004, cơ bản chương trình nguồn. lên, đáp ứng được nhu cẳu.
Giai đoạn 2005-2007, dự kiến nhiều công trình nguồn điện vào vận hành chậm với nhiều nguyên nhân cả về chủ quan lẫn khách quan = Qua hai năm thực hiện TSĐ6 (2006-2007) với sự nổ lực rất lớn của EVN, tông sản xuất của toàn hệ thống, tong sản xuất của EVN và mua đều tăng đáng kể. “Các công trinh thủy điện, của EVN và ngoài EVN đều vào vận hành chậm so với tiến độ dự kiến. Các nguồn điện khác cũng tương tự. Tuy nhiên, theo thống kế, tý lệ thủy điện của EVN trong tổng điệ lượng của EVN đều tăng so với năm 2005 (năm 2006 là 41,27% và năm 2007 là 42,12%).
Hiện nay, nhiều nhà máy thủy điện (NMTB) dang đưa vào vận hình theo tiến độ như Đại Ninh (300 MW), Tuyên Quang (342 MW), Se San 3 (260 mW), = Theo dự kiến của TSD6, năng lượng phát của thủy điện trong những năm 2010-2015-2020-2025 như sau :40 083 Gwwh —61 912 Gwh—65 921 Gwh 66 480 ảnh. Đây thực là con số rit Ấn tượng, thé hiện sự nỗ lực to lớn của EVN và các ngành liên quan. Tình hình sir dụng chỉ tiêu suất vốn đầu tư xây dựng Suit đầu tư ld loại chi tiêu kinh tế — kỹ thuật có vị trí phục vụ quan trọng cho sông tác kế hoạch hoá và quản lý vốn đầu tr của Nha nước và là thông tin ban đầu về giá cả xây dụng hết sức cần thiết cho nhà đầu tu. Vi vậy cho nên suit đầu tư và suất đầu tư định mức ở nước ta cho dù chưa được nghiên cứu biên soạn một cách đầy đủ, có căn cir khoa học và lưu hành rộng ri trong thực tế cũng đã được cắc cơ quan Nha nước như các vụ chức năng trong Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong các Bộ in quy hoạch, thiết kế sử dụng vào các mục đích tư trong các kỳ Ê hoạch 5 năm, 10 năm và dai han ở Bộ kế hoạch và đầu tr và ở các Bộ ngành có chuyên ngành xây dựng = Tĩnh toán cân đối và phân bỏ vốn đầu tr trong các ky k hoạch xây dựng đô thị, nông thôn và lia chọn phương án đầu tw trong quả trình lập luận chứng kin tế kỹ thuật của ý trình xây dựng quan trọng, Giới han tổng số vốn đầu tr trong quá trình hoạch định và xét duyệt chủ trương đầu tr thuộc vốn ngân sich Nhà nước dưới các hình thức ở Bộ Kế hoạch và ‘Du tr, Bộ tài chính và các ngânhàng đầu tư.
Một số nhà đầu tw cũng đã sử dụng chỉ tiêu suất đầu tư đã ban hành làm chỉ tiêu tham khảo để chuẩn bị vốn và khống chế việc lùa chọn giải pháp đầu tư thích hợp. Mặt khác, một số cơ quan nghiên cứu kinh tế cũng đã sử dụng chỉ tiêu suất tu thuộc vốn ngân sich Nhà nước dư hình thức ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ ta chí h và các ngân hàng đầu tư. Một số nhà đằutr cũng đã sử dung chỉ tiêu suất đầu tư đã ban hành làm chỉ tiêu tham khảo để chuẩn bi vốn và khống chế việc tha chọn giải pháp đầu tư thích hop. Mặt khác, một số cơ quan nghiên cứu kinh tế cũng đã sử dụng chỉ tiêu suất «dau tư đã được lưu hành trong thời gian vừa qua vào việc tính toán các chỉ tiêu về điều chỉnh giá cả trong xây dựng cơ ban như giá thiết kế, giá dự toán xây lắp các công tỉnh Tuy nhiên, do vấn đề suit vin đầu tư ở nước ta được nghiên cứu thết lập một cách diy đủ rên cơ sở khoa học phủ hợp với tình hình biển động của giá cổ và co ch thị trường về đầu tư và xâydưng: chưa gắn chúng với cơ chế quản lý kinh tế mới của Nhà nước, cho nên việc áp dung chi tiêu suất đầu tư nhìn chung còn hạn chế và chưa hết vai trồ của chúng 2.
- Tông quan về phương pháp xác định chỉ tiêu suất vốn đầu tư 2. Tổng quan về phương pháp Tổng quan, phương pháp xác định suất vốn đầu tư công tình xây đựng gồm 3 bước sau: Bước 1; Phân vùng tinh toán, lựa chọn loại hình và quy mô công trình dé tính toán. suất vốn đầu tư, thu thập số liệu cần thiết Nghiên cứu phân ving tính toán: Việc phân ving tính toán nhằm mục dich xác định được chỉ tiêu SVĐT xây dựng công trình thuỷ lợi, thể hiện được giá tị trung bình đại diện theo các vũng dia lý. Căn cứ đỂ phân vũng tính toàn là dựa vào điều kiện địa hình, địa chất, khí hậu thuỷ văn, kinh t = xã hội.
việc lựa chọn số lượng vùng nhiều hay it tuy theo mục đích, quy mô và Lựa chọn loại hình công trình; Việc lựa chọn loại hình công trình và quy mô (eấp công trình) nào để tính toán SVBT phụ thuộc vào từng nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu cụ thé.