CHƯƠNG 1: ĐỘ TƯƠNG ĐỒNG HÀNH VI NGƯỜI DÙNG TRÊN MẠNG XÃ HỘI Nội dung chính của chương này là trình bày những vấn đề tổng quan về mạng xã hội và hành vi người dùng trên mạng xã hội, đề xuất phương pháp tính toán mức độ tương tự giữa các cặp người dùng dựa vào hành vi trong mạng xã hội.1 Giới thiệu về mạng xã hội Mạng xã hội (social network) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian. Những người tham gia vào mạng xã hội được gọi là cư dân mạng [13].1 dưới đây liệt kê một số trang mạng xã hội phổ biến. Một số trang mạng xã hội phổ biến Mạng xã hội có những tính năng như chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận. Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới.
Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm Luan van 4 bạn bè, đối tác: dựa theo group , dựa trên thông tin cá nhân , hoặc dựa trên sở thích cá nhân, lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán. Về cơ bản, mạng xã hội giống như một trang web mở với nhiều ứng dụng khác nhau. Mạng xã hội khác với trang web thông thường ở cách truyền tải thông tin và tích hợp ứng dụng. Về mặt bản chất, mạng xã hội chính là hình thức làm marketing truyền miệng trên môi trường Internet.1 Lịch sử hình thành Trong quá khứ, mạng xã hội luôn đồng hành cùng với sự phát triển của Internet.
Từ những email đầu tiên được gởi đi vởi các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ vào năm 1971 đến những mạng xã hội hiện đại như Google+ hay Pinterest. Internet và các nội dung chia sẻ luôn gắn liền với tính chất cộng đồng. Mục tiêu chính của Internet là tạo phương tiện để mọi người có thể kết nối, giao tiếp và cộng tác với nhau. Hiện nay, những công cụ xã hội trực tuyến được nhắc tới nhiều nhất là Facebook, Twitter hay Google+.
Tuy nhiên, từ lúc xuất hiện đến nay, mạng xã hội đã trải qua nhiều thay đổi nhanh chóng cả về nguyên lý làm việc lẫn giao diện đồ họa. Mạng xã hội xuất hiện lần đầu tiên năm 1995 với sự ra đời của trang Classmate với mục đích kết nối bạn học, tiếp theo là sự xuất hiện của SixDegrees vào năm 1997 với mục đích giao lưu kết bạn dựa theo sở thích. Năm 2002, Friendster trở thành một trào lưu mới tại Hoa Kỳ với hàng triệu thành viên ghi danh. Tuy nhiên sự phát triển quá nhanh này cũng là con dao hai lưỡi: server của Friendster thường bị quá tải mỗi ngày, gây bất bình cho rất nhiều thành viên.
Năm 2004, MySpace ra đời với các tính năng như phim ảnh (embedded video) và nhanh chóng thu hút hàng chục ngàn thành viên mới mỗi ngày, các thành viên cũ của Friendster cũng nhanh chóng chuyển qua MySpace và trong vòng một năm, MySpace trở thành mạng xã hội đầu tiên có nhiều lượt xem hơn cả Google và được tập đoàn News Corporation mua lại với giá 580 triệu USD. Luan van 5 Hai năm sau, Twitter cũng kịp thời ra đời, ghi dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của mạng xã hội. Năm 2006, sự ra đời của Facebook đánh dấu bước ngoặt mới cho hệ thống mạng xã hội trực tuyến với nền tảng lập trình "Facebook Platform" cho phép thành viên tạo ra những công cụ (apps) mới cho cá nhân mình cũng như các thành viên khác dùng [13].2 Cấu trúc chung của mạng xã hội Về cơ bản, mạng xã hội giống như một trang web mà nó hoạt động như một tâm điểm kết nối, giúp các thành viên thiết lập mối quan hệ với nhau. Mạng xã hội được tạo ra để tự thân nó lan rộng trong cộng đồng thông qua các tương tác của các thành viên trong chính cộng đồng đó.
Mọi thành viên trong mạng xã hội cùng kết nối và mỗi người là một nút để tạo nên một mạng lưới rộng lớn truyền tải thông tin trong đó. Mạng xã hội chứa các thành phần cụ thể và cho phép người dùng: - Tạo hồ sơ cá nhân trực tuyến - Danh sách bạn bè trong kết nối của họ - Nhận được thông báo từ các kết nối của họ - Tham gia hoạt động hàng ngày: đăng bài, thích bài, nhận xét bài, tham gia nhóm - cộng đồng,…. - Thiết lập quyền kiểm soát dữ liệu. Mỗi thành viên trong mạng xã hội giống như một nút.
Mỗi nút lại liên kết với các nút khác thông qua các cạnh chính là các hành động thực hiện hàng ngày. Có 2 kiểu liên kết tồn tại trong mạng xã hội: - Liên kết trực tiếp: mối liên kết giữa 2 nút trực tiếp với nhau, tức là 2 nút này có thể quen biết nhau là bạn, đồng nghiệp, có chung sở thích, có chung vấn đề quan tâm,…. - Liên kết gián tiếp: liên kết giữa 2 nút thông qua 1 hoặc nhiều nút trung gian. Ví dụ: Người A liên kết trực tiếp với người B, người B liên kết trực tiếp với người C, người C liên kết trực tiếp với người D.
Người A và Luan van 6 người D không có liên kết trực tiếp nào nên giữa họ hình thành liên kết gián tiếp qua người B và người C. Do vậy, giữa người A và người D có ít nhất một điểm chung là B và C.2 dưới đây biểu diễn mô hình liên kết một mạng xã hội. Mô hình liên kết một mạng xã hội Như vậy trong chuỗi liên kết của một thành viên trong mạng xã hội sẽ luôn tồn tại ít nhất một đặc điểm chung nào đó với các thành viên khác cũng nằm trên liên kết đó.3 Một số mạng xã hội phổ biến hiện nay 1.1 Facebook Facebook (https://www.com/) là một dịch vụ mạng xã hội được sáng lập bởi Mark Zuckerburg, ra mắt vào tháng 2 năm 2004, do Facebook.Inc điều hành. Facebook đã phổ biến với lượng người dùng khổng lồ và hiện đang là mạng Luan van 7 xã hội lớn nhất thế giới.
Theo thống kê, Facebook hiện có hơn 1.409 tỉ người dùng và đứng đầu trên toàn thế giới.3 dưới đây mô tả một giao diện Facebook trên Window 7. Giao diện Facebook trên Window 7 Facebook là nơi mọi người có thể giao lưu kết bạn cũng như chia sẻ thông tin, hình ảnh, tin tức, những sở thích cá nhân hay bất cứ điều gì người dùng muốn. Hiện có rất nhiều các nhà tiếp thị sử dụng Facebook để thu hút thêm khách hàng mới, rất nhiều người dân tại các quốc gia đang sử dụng Facebook, nhiều nhất là Mỹ cho biết Facebook là nhân tố số 1 ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của họ. Do đặc tính thân thiện, dễ sử dụng cũng như phù hợp với lối sống năng động của đại bộ phận giới trẻ Việt mà mạng xã hội này ngày càng phổ biến.
Tính năng với người sử dụng: Ban đầu, Facebook được hướng chủ yếu tới sinh viên, nhưng ngày nay đã được phổ cập ở mọi lứa tuổi. Mặc dù phạm vi của Facebook đã được mở rộng và nâng cấp thêm rất nhiều tính năng so với trước đây nhưng mục đích thì không thay đổi - chia sẻ thông tin và tính chất giải trí. Mọi người dùng cần đăng ký để tạo một tài khoản cá nhân, sau đó Facebook sẽ cung cấp cho người dùng một hồ sơ để gia nhập vào mạng. Sau khi gia nhập, người dùng sẽ được cung cấp một vài cách để tìm kiếm bạn: Luan van 8 - Cách 1: Facebook tự động đẩy danh sách liên hệ từ địa chỉ email có tài khoản Facebook sang - Cách 2: người dùng tự tham gia vào các nhóm, các trang trên Facebook và tự tìm kiếm bạn bè trong đó - Cách 3: sử dụng cỗ máy tìm kiếm của Facebook để tìm ra người cụ thể dựa vào tên của người đó.
Một số cơ chế trên Facebook giúp người dùng thuận tiện trong việc giao tiếp và chia sẻ thông tin: - Đăng bài “post” trên trang cá nhân – bài đăng có thể là bất cứ cái gì (suy nghĩ, video, ảnh…) có thể bật định vị để đưa lên vị trí người dùng đang viết bài. - Cơ chế đánh dấu “tag”, đó là một loại liên kết đặc biệt. Khi “tag” ai đó nghĩa là tạo một đường liên kết tới dòng thời gian (timeline) của người đó. Người được “tag” sẽ được thông báo và lựa chọn xem họ có cho phép hiển thị “tag” hay không.
- Theo dõi “follow” cũng được sử dụng và hoạt động như “subscribe” (đăng ký theo dõi). Khi chọn “follow” ai đó, sẽ nhìn thấy những cập nhật từ người mà có theo dõi. - Nút “like” là một nút nổi tiếng do Facebook khởi xướng. Nút này thường được gắn với một nội dung cụ thể, khi nhấn “like” nghĩa là đã đưa ra một phản hồi tích cực đến thứ mà đang quan tâm.2 Twitter Twitter (https: twitter.com/) được sáng lập năm 2006 bởi Jack Dorsey, Evan Williams và Biz Stone, Twitter là một mạng xã hội trực tuyến và dịch vụ tiểu blog cho phép người dùng gửi và đọc các tin nhắn văn bản.
Sau khi ra đời Twitter nahnh chóng trở nên phổ biến trên toàn thế giới với hơn 316 triệu người dùng (tháng 8/2015).4 dưới đây mô tả một giao diện Facebook trên Window 7. Luan van 9 Hình 1. Giao diện Twitter trên Window 7 Tuy nhiên, cách sử dụng khá phức tạp cùng với các nguyên tắc khó hiểu cũng như giao diện lạ mắt khiến Twitter được đánh giá là khó gần. Hơn thế, Twitter còn giới hạn 140 kí tự trong một bài đăng gọi là Tweet, điều này gây rất nhiều bất tiện cho nhiều người khi họ muốn chia sẻ nhiều cảm xúc, suy nghĩ, ý kiến của bản thân.
Điều đó tương tự như việc khi ai đó muốn nhắn tin cho người yêu nhưng lại không đủ ký tự, thì họ sẽ lựa chọn gọi điện hay một phương pháp nào khác nhanh gọn và tiện lợi hơn. Dù du nhập vào Việt Nam gần như đồng thời với Facebook nhưng số phận của Twitter lại ảm đạm hơn hẳn. Tính năng của người dùng trên Twitter: Người dùng cần phải đăng ký một tài khoản bằng email. Sau đó Twitter sẽ cung cấp cho người dùng một hồ sơ vào mạng.
Người dùng có thể đăng tweet có một vài giới hạn như độ dài không quá 140 kí tự và chỉ có thể bao gồm dữ liệu dạng văn bản, không thể đính kèm tranh, ảnh, video. Mỗi người dùng Twitter sinh ra một luồng “tweet” và có thể chọn theo sau luồng của một người khác để luôn được cập nhật tin tức từ người đó.