Tổng quan luận án
Công trình luận án tiến sĩ địa chất của nghiên cứu sinh Trần Lê Châu với đề tài "Nghiên cứu lựa chọn phương pháp thăm dò và đánh giá tài nguyên urani trong cát kết bồn trũng Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam" được thực hiện tại Bộ môn Tìm kiếm - Thăm dò, Khoa Khoa học và Kỹ thuật Địa chất, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội (năm 2024), thuộc chuyên ngành Kỹ thuật địa chất (mã số 9520501), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. NGƯT Nguyễn Văn Lâm và TS Bùi Tất Hợp.
Tính cấp thiết của luận án gắn liền với việc thực hiện "Chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 334/QĐ-TTg ngày 01 tháng 4 năm 2023. Quyết định xác định urani là khoáng sản chiến lược, quan trọng quy mô lớn cần tiếp tục điều tra, thăm dò nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình. Các kết quả nghiên cứu địa chất từ sau năm 1954 khẳng định bồn trũng Nông Sơn (Quảng Nam) là khu vực có tiềm năng urani trong cát kết tuổi Trias muộn triển vọng nhất Việt Nam. Dù một số diện tích như khu Pà Lừa - Pà Rồng đã được thăm dò đánh giá trữ lượng đến cấp 122, nhiều vấn đề về đặc điểm sinh khoáng, quy luật phân bố, đặc trưng biến đổi không gian của các thông số địa chất công nghiệp thân quặng, cũng như việc chuẩn hóa hệ thống phương pháp thăm dò và tính toán tài nguyên/trữ lượng vẫn chưa được giải quyết đồng bộ và toàn diện.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung chính:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ đặc điểm biến đổi và mức độ biến hóa không gian của các thông số địa chất thân quặng urani (hình thái, kích thước, thế nằm) trong cát kết bồn trũng Nông Sơn.
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng sự biến đổi của các thông số địa chất công nghiệp thân quặng đến công tác thăm dò; từ đó lựa chọn phương pháp thăm dò và đánh giá tài nguyên (trọng tâm là phương pháp tính trữ lượng/tài nguyên) phù hợp với kiểu quặng urani trong cát kết bồn trũng Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quặng urani trong cát kết và các thành tạo địa chất có liên quan trong bồn trũng Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Diện tích khoảng 3.200 km² thuộc địa phận huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam; dữ liệu phân tích tập trung vào các kết quả điều tra, đánh giá, thăm dò địa chất và phân tích thành phần vật chất tích lũy từ các đề án thực địa từ năm 1983 đến năm 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử điều tra, nghiên cứu địa chất và khoáng sản tại bồn trũng Nông Sơn được tác giả tổng hợp qua các giai đoạn chính:
- Nghiên cứu địa chất khu vực trước và sau 1975: Các khảo sát ban đầu về than và địa tầng của các nhà địa chất Pháp như E. Saladin (1982) và J. Fromaget (phân chia phức hệ Nông Sơn và hệ tầng Thọ Lâm). Sau năm 1975, công tác lập bản đồ địa chất khu vực được triển khai đồng bộ qua công trình lập Bản đồ Địa chất Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 của Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao (1975-1983) và Bản đồ Địa chất nhóm tờ Huế - Quảng Ngãi tỷ lệ 1:200.000 của Nguyễn Văn Trang (1986, hiệu đính 1996).
- Điều tra, tìm kiếm khoáng sản phóng xạ urani:
- Giai đoạn 1985-1988: Đoàn 82 (Liên đoàn Vật lý Địa chất) bay đo từ phổ hàng không tỷ lệ 1:25.000 trên diện tích 800 km²; Liên đoàn Địa chất 10 khảo sát mặt đất phát hiện các vùng triển vọng Khe Hoa - Khe Cao, Tabhing, An Điềm.
- Giai đoạn 1983-1991: Liên đoàn Địa chất 10 điều tra tỷ lệ 1:50.000 trên toàn bể than Nông Sơn.
- Giai đoạn 1990-1991: Đoàn 209 (Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam) kiểm tra dị thường phóng xạ hàng không tỷ lệ 1:25.000.
- Giai đoạn 1993-1997: Liên đoàn Địa chất 10 tìm kiếm tỷ lệ 1:25.000 (150 km²) và tìm kiếm chi tiết 1:10.000 (28 km²) vùng Tabhing, xác định cụm triển vọng Pà Lừa - Pà Rồng.
- Các công trình nghiên cứu chuyên đề: Luận án phó tiến sĩ của Trịnh Xuân Bền (1995) về đặc điểm địa hóa - khoáng vật quặng Khe Hoa - Khe Cao; Nguyễn Linh Ngọc (1997) về tướng đá - cổ địa lý Trias thượng; Trần Nghi, Nguyễn Quang Hưng, Nguyễn Trọng Chi (1997) về thạch học - tướng đá và thành phần vật chất quặng vùng Tabhing; Nguyễn Văn Hoai và nnk (2002); Nguyễn Quang Hưng (2002); Nguyễn Tuấn Phong (2002) về tài liệu địa vật lý; Nguyễn Đắc Đồng và nnk (2005) về tổng quan tài nguyên urani Việt Nam; Nguyễn Phương và nnk (2008) về ứng dụng KH&CN trong tìm kiếm thăm dò; Nguyễn Đắc Sơn và nnk (2014) về mô hình kiểu mỏ; Nguyễn Trường Giang (2018) về cấu trúc - kiến tạo tây bắc bồn trũng Nông Sơn; Viện Địa chất Karpinski "FGBU - VSEGEI" (2018) về thạch học - tướng đá khu vực Pà Lừa - Pà Rồng.
- Các đề án điều tra, đánh giá, thăm dò thực địa (1992-2021): Bao gồm công tác tìm kiếm, đánh giá chi tiết tại Khe Hoa - Khe Cao (1992-1995, hàm lượng 0,04 - 0,06% $U_3O_8$), An Điềm (1995-2000), Pà Lừa (1997-1999), Đông Nam Bến Giằng (1999-2003), Pà Rồng (2000-2002), Khe Lốt (2008-2015) và Đề án thăm dò urani khu Pà Lừa - Pà Rồng diện tích 6,2 km² (2010-2021) do Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm thực hiện, khoanh nối 09 thân quặng công nghiệp.
Khoảng trống luận án tập trung giải quyết: Mặc dù khu vực Pà Lừa - Pà Rồng đã được thăm dò cấp 122, các công trình trước đây chưa làm sáng tỏ đầy đủ 03 phương diện biến hóa quặng hóa (quy luật, mức độ, cấu trúc biến hóa không gian) của các thông số địa chất công nghiệp; chưa lượng hóa đặc tính dị hướng; chưa xây dựng cơ sở khoa học hoàn chỉnh cho việc phân nhóm mỏ thăm dò, tối ưu hóa mạng lưới công trình và xác lập phương pháp tính tài nguyên/trữ lượng có kiểm chứng cho kiểu mỏ urani trong cát kết bồn trũng Nông Sơn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống lý luận về sinh khoáng ngoại sinh kiểu mỏ thấm đọng (thấm lọc), địa hóa urani và lý thuyết biến hóa thông số địa chất công nghiệp:
Khung lý thuyết và khái niệm cơ bản
- Mô hình mỏ thấm đọng và barie địa hóa: Quá trình tạo khoáng ngoại sinh diễn ra khi urani bị rửa lũa, hòa tan từ các đá magma, biến chất cổ trong môi trường oxy hóa ở dạng ion uranyl ($UO_2^{2+}$) và các phức chất bền ($HCO_3^-$, $PO_4^{3-}$, $SO_4^{2-}$, $AsO_4^{3-}$). Khi dung dịch nước ngầm di chuyển qua các tầng cát kết có tính thấm xốp và gặp đới khử (chứa than bùn, mùn thực vật, axit humic, axit fulvic, khoáng vật sulfur/pyrit), ion $U^{6+}$ bị khử về $U^{4+}$, tạo thành các khoáng vật urani khó tan kết tủa tại các rào chắn địa hóa.
- Hành vi hấp phụ địa hóa: Axit humic và than bùn thể hiện khả năng hấp thụ urani cao nhất ở môi trường $pH = 5 - 7,5$. Hệ số làm giàu $GEF = \frac{[UO_2^{2+}]{\text{than bùn}}}{[UO_2^{2+}]{\text{nước}}}$ đạt tới giá trị 1.000 khi $pH = 5$.
- Ba phương diện biến hóa quặng hóa: Tiếp cận nghiên cứu thông số địa chất (chiều dày thân quặng, hàm lượng $U_3O_8$) thông qua xác định quy luật biến hóa (ngẫu nhiên hoặc có quy luật), mức độ biến hóa (hệ số biến thiên $V%$) và cấu trúc biến hóa (hàm cấu trúc Variogram, khoảng cách ảnh hưởng, tỷ số dị hướng).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp địa chất và thạch học - tướng đá: Đo vẽ bản đồ địa chất, đối sánh mặt cắt trầm tích, phân tích lát mỏng thạch học xác định thành phần khoáng vật và cấu trúc hạt cát kết.
- Phương pháp phân tích khoáng vật và địa hóa hiện đại:
- Phân tích khoáng tướng dưới kính hiển vi quang học phân cực Meiji - ML 9430 Halogen Light.
- Phân tích cấu trúc vi khoáng vật và thành phần nguyên tố trên kính hiển vi điện tử quét SEM.
- Phân tích kích hoạt neutron (INAA) và quang phổ khối plasma cảm ứng vi lượng ICP-MS xác định hàm lượng U, Th và tổ hợp 36 nguyên tố.
- Phương pháp địa thống kê và mô hình hóa:
- Thống kê mô tả, kiểm định quy luật phân bố chuẩn và loga chuẩn của các tập dữ liệu chiều dày, hàm lượng.
- Khảo sát hàm cấu trúc biến sai Variogram theo các phương vị, góc quét, bước khảo sát và góc giới hạn nhằm xác định bán kính ảnh hưởng thực tế và hệ số dị hướng không gian.
- Phương pháp tính toán tài nguyên: Đánh giá so sánh và luận giải lựa chọn phương pháp khối địa chất truyền thống kết hợp phương pháp nội suy Kriging thông dụng (Ordinary Kriging).
Nguồn cơ sở dữ liệu
Dữ liệu của luận án được xây dựng từ nguồn tài liệu điều tra, thăm dò của Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm (đặc biệt là tài liệu thi công Đề án Pà Lừa - Pà Rồng 2010-2021), bao gồm kết quả phân tích hàng nghìn mẫu hóa urani, hàng trăm mẫu thạch học, mẫu ICP-MS 36 nguyên tố, hàng chục ngàn mét khoan và khai đào hào lò. Ngoài ra, tác giả trực tiếp gia công và phân tích bổ sung 04 mẫu khoáng tướng và 04 mẫu SEM để xác định chính xác mối quan hệ giữa khoáng vật urani và khoáng vật sulfur.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát đặc điểm địa chất – khoáng sản bồn trũng Nông Sơn
Chương 1 tổng quan về vị trí địa lý, cấu trúc kiến tạo, địa tầng, magma xâm nhập, tướng đá - cổ địa lý và khoáng sản của bồn trũng Nông Sơn:
- Vị trí địa lý và địa hình: Khu vực nghiên cứu có diện tích khoảng 3.200 km² thuộc huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 100 km về phía tây nam. Địa hình thuộc miền núi trung bình, độ cao tuyệt đối từ 250 m đến 1.034 m, sườn dốc 20 - 35°, mạng lưới sông suối phát triển gồm Sông Cái, Sông Vu Gia, Sông Côn, Sông Bung, Sông A Vương.
- Cấu trúc địa chất - kiến tạo: Bồn trũng Nông Sơn được xem là một bộ phận của hệ rift nội lục sau va chạm Mesozoi Sông Bung - An Khê, hình thành trên vỏ lục địa căng giãn giai đoạn Trias giữa - Jura giữa, nằm chồng lên đai tạo núi Paleozoi sớm - giữa Quảng Đà và một phần á địa khu Nam - Ngãi. Cấu trúc bị chia cắt bởi 4 hệ thống đứt gãy chính: á vĩ tuyến (tạo địa hào Nông Sơn), tây bắc - đông nam (tạo địa hào Sông Bung, sâu tới lớp granit), đông bắc - tây nam (đứt gãy nghịch gây dịch chuyển lớn làm lộ móng biến chất) và á kinh tuyến.
- Địa tầng:
- Phức hệ Khâm Đức - Núi Vú ($NP_3\text{-}\epsilon_1\ kv$): Đá biến chất tướng amphibolit đến phiến lục (gneis, amphibolit, đá phiến biotit, đá phiến thạch anh chứa grafit); cường độ phóng xạ 10 - 30 $\mu R/h$, tại điểm quặng Tiên An - Trà Dương đạt từ 50-60 $\mu R/h$ đến hơn 1.000 $\mu R/h$.
- Hệ tầng A Vương ($\epsilon_2\text{-}O_1\ av$): Dày khoảng 600 m, gồm đá phiến sericit - thạch anh, quarzit, phiến silic; cường độ phóng xạ 10 - 20 $\mu R/h$.
- Hệ tầng Sông Bung ($T_2a\ sb$): Dày 600 - 1.800 m, gồm cuội kết, sét bột kết xen cát kết tuf, phun trào axit đến trung tính.
- Hệ tầng An Điềm ($T_3n\ ađ$): Phân chia thành phân hệ tầng dưới ($T_3n\ ađ_1$, dày 550 m, cuội kết, cát bột kết màu đỏ) và phân hệ tầng trên ($T_3n\ ađ_2$, dày hơn 1.000 m, cát kết arko xen kẹp bột kết, sét than và vỉa than). Đây là tầng chứa quặng urani chủ yếu; phóng xạ nền 11 - 25 $\mu R/h$, các đới dị thường đạt từ 100 đến trên 3.000 $\mu R/h$.
- Hệ tầng Sườn Giữa ($T_3n\text{-}r\ sg$): Phân hệ tầng dưới ($sg_1$, dày 600 - 700 m) và phân hệ tầng trên ($sg_2$, dày 350 - 700 m), chứa than và các dị thường phóng xạ 200 - 1.500 $\mu R/h$ ở nóc/trụ vỉa than.
- Loạt Thọ Lâm ($J_{1\text{-}2}\ tl$): Dày trên 1.390 m, gồm 3 phân vị (Bàn Cờ, Khe Rèn, Hữu Chánh), phóng xạ nền thấp 5 - 10 $\mu R/h$.
- Trầm tích Đệ Tứ ($Q$): Cuội sỏi sét cát bở rời thềm sông bãi bồi, dày vài mét đến 10 m.
- Magma xâm nhập: Phức hệ Đại Lộc ($D_1\ đl$, granit kiểu S, phóng xạ 15 - 25 $\mu R/h$); Phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn ($\delta P_{2\text{-}3}\ bq$, tuổi 260 - 269 triệu năm, loạt kiềm - vôi, phóng xạ 8 - 20 $\mu R/h$, cục bộ 120 $\mu R/h$); Phức hệ Chà Vằn ($\nu\sigma P_3\text{-}T_1\ cv$, gabbro kiềm - vôi, phóng xạ 11 - 16 $\mu R/h$).
- Tướng đá - cổ địa lý: Trầm tích Trias muộn thể hiện 2 chu kỳ trầm tích (An Điềm và Sườn Giữa) với 3 phức hệ tướng: phức hệ tướng cuội sạn cát aluvi - proluvi biển thoái ($GapLST$), phức hệ tướng sạn cát nón quạt cửa sông biển thoái ($GapLST$) và phức hệ tướng cát bùn biển nông vũng vịnh biển tiến ($SmTST$). Cát kết arko giàu felspat hạt trung đến thô thuộc tướng vũng vịnh và nón quạt là đá vây quanh thuận lợi nhất cho tích tụ quặng urani.
| Phân vị địa chất / Phức hệ |
Tuổi địa chất |
Thành phần thạch học chủ yếu |
Cường độ phóng xạ ($\mu R/h$) |
| Phức hệ Khâm Đức - Núi Vú |
$NP_3\text{-}\epsilon_1$ |
Amphibolit, gneis biotit, phiến thạch anh grafit |
10 - 30 (Dị thường >1.000) |
| Hệ tầng A Vương |
$\epsilon_2\text{-}O_1$ |
Đá phiến sericit - thạch anh, quarzit |
10 - 20 (Cục bộ 200) |
| Hệ tầng Sông Bung |
$T_2a$ |
Cuội kết, cát kết tuf, sét bột kết |
Nền thấp |
| Hệ tầng An Điềm (dưới / trên) |
$T_3n$ |
Cuội kết đỏ / Cát kết arko, bột kết, sét than |
8 - 30 (Dị thường >3.000) |
| Hệ tầng Sườn Giữa |
$T_3n\text{-}r$ |
Sạn kết, cát kết hạt trung, sét than, than |
200 - 1.500 (Tại vỉa than) |
| Loạt Thọ Lâm |
$J_{1\text{-}2}$ |
Cuội kết thạch anh, bột kết, cát kết đỏ |
5 - 10 |
| Phức hệ Đại Lộc |
$D_1$ |
Granitogneis hai mica, pegmatoid (Granit kiểu S) |
15 - 25 (Dị thường 45 - 50) |
| Phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn |
$P_{2\text{-}3}$ |
Diorit, granodiorit, granit biotit - hornblend |
8 - 20 (Dị thường 40 - 120) |
| Phức hệ Chà Vằn |
$P_3\text{-}T_1$ |
Gabbro, gabbronorit, monzogabbro |
11 - 16 |
Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày có hệ thống các định nghĩa chuyên ngành, cơ sở lý hóa của quá trình tạo khoáng urani và hệ phương pháp nghiên cứu thông số thân quặng:
- Đặc điểm địa hóa urani: Khẳng định tính linh động cao của $U^{6+}$ trong điều kiện oxy hóa và tính kết tủa của $U^{4+}$ trong môi trường khử. Vai trò của các chất khử vô cơ (ion $Fe^{2+}$, sulfur) và chất khử hữu cơ (hợp chất mùn, than bùn, axit humic). Quá trình vi khuẩn khử sulfat thành $H_2S$ đóng vai trò xúc tác tạo môi trường khử mạnh cho uraninit và coffinit kết tủa.
- Lý thuyết ba phương diện biến hóa quặng hóa:
- Quy luật biến hóa: Phân định thành phần biến hóa ngẫu nhiên và biến hóa có quy luật của thông số chiều dày và hàm lượng.
- Mức độ biến hóa: Đánh giá qua độ lệch chuẩn và hệ số biến thiên $V%$.
- Cấu trúc biến hóa: Xác lập hàm cấu trúc thực nghiệm $\gamma(h)$ (Variogram) theo khoảng cách $h$ và hướng khảo sát để xác định tính đẳng hướng hay dị hướng của khoáng hóa:
$$\gamma(h) = \frac{1}{2N(h)} \sum_{i=1}^{N(h)} [z(x_i) - z(x_i + h)]^2$$
- Hệ thống và mạng lưới thăm dò: Định nghĩa các dạng ô mạng thăm dò (tuyến song song, rẻ quạt, hình chữ nhật) và nguyên tắc tối ưu hóa khoảng cách công trình dựa trên bán kính ảnh hưởng thực tế từ mô hình Variogram.
Chương 3: Đặc điểm quặng hóa urani trong cát kết bồn trũng Nông Sơn
Chương 3 đi sâu phân tích cấu trúc thân quặng, tổ hợp khoáng vật, đặc tính địa hóa và cơ chế tạo quặng tại các khu vực mỏ (Pà Lừa - Pà Rồng, Khe Hoa - Khe Cao, Đông Nam Bến Giằng, Cà Liêng - Sườn Giữa):
- Hình thái và cấu trúc thân quặng: Các thân quặng urani công nghiệp có dạng vỉa thấu kính, chuỗi thấu kính hoặc dạng tấm (tabulas) nằm giả chỉnh hợp với đá cát kết vây quanh thuộc hệ tầng An Điềm ($T_3n\ ađ_2$). Sự phân bố lớp đá chứa quặng phụ thuộc chặt chẽ vào 2 phức hệ tướng đá:
- Dạng cánh cung theo đường bờ cổ: Thuộc phức hệ tướng cát hạt thô - hạt nhỏ nón quạt ngầm ven bờ.
- Dạng vỉa thấu kính song song: Thuộc phức hệ tướng cát hạt trung - hạt nhỏ biển nông vũng vịnh.
- Tổ hợp khoáng vật urani:
- Khoáng vật nguyên sinh (đới quặng tươi/chưa phong hóa): Nasturan (pitchblend), coffinit ($U[SiO_4]{1-x}[OH]{4x}$).
- Khoáng vật thứ sinh (đới bán phong hóa và phong hóa oxy hóa): Uranophan ($Ca[UO_2]_2[SiO_3OH]_2 \cdot 5H_2O$), autunit ($Ca[UO_2]_2[PO_4]_2 \cdot 10-12H_2O$), metaautunit, uranoxiaxit, metauranoxiaxit, photfuranilit.
- Khoáng vật cộng sinh sinh khoáng: Pyrit ($FeS_2$), sericit, calcit thứ sinh, oxyt sắt. Ảnh chụp SEM và khoáng tướng xác nhận pyrit vi hạt phân tán đồng sinh hoặc cộng sinh chặt chẽ với khoáng vật urani.
- Thành phần hóa học và tương quan nguyên tố: Hàm lượng $U_3O_8$ trong các thân quặng công nghiệp dao động phổ biến từ 0,02% đến 0,06%, cục bộ cao hơn. Urani có mối tương quan thuận rõ rệt với $C_{\text{hữu cơ}}$, $S_{\text{sunfua}}$, $V$, $Mo$ và $P_2O_5$.
- Nguồn cung cấp và cơ chế tạo quặng: Urani được hòa tan, rửa lũa từ các phức hệ đá móng giàu phóng xạ (đá phiến Khâm Đức - Núi Vú, granit Đại Lộc, xâm nhập Bến Giằng - Quế Sơn) trong giai đoạn phong hóa lục địa. Nước dưới đất mang urani ngấm vào bồn trũng trầm tích, di chuyển qua các tầng cát kết arko thấm nước tốt; khi gặp tầng chứa vật chất hữu cơ phân hủy sinh $H_2S$ và pyrit, phản ứng khử diễn ra làm urani kết tủa dạng thấm đọng ngoại sinh.
Chương 4: Lựa chọn phương pháp thăm dò và đánh giá tài nguyên urani trong cát kết bồn trũng Nông Sơn
Chương 4 là chương trọng tâm kỹ thuật của luận án, giải quyết việc xử lý thống kê dữ liệu, phân nhóm mỏ, xác lập mạng lưới công trình và phương pháp tính tài nguyên:
- Đặc điểm biến đổi thông số địa chất công nghiệp:
- Chiều dày thân quặng: Biến đổi nhảy vọt, gián đoạn, không có quy luật rõ rệt; cấu trúc nội bộ từ đơn giản đến phức tạp; thuộc loại chiều dày không ổn định.
- Hàm lượng $U_3O_8$: Đồ thị tần số phân bố tuân theo quy luật phân bố loga chuẩn ($\text{Log}_{10}$). Hàm lượng biến đổi từ không đồng đều đến đặc biệt không đồng đều. Mức độ biến đổi hàm lượng trong nội bộ thân quặng phức tạp hơn biến đổi chiều dày.
- Tính dị hướng: Kết quả khảo sát hàm cấu trúc Variogram (thân quặng 1, 2, 2b Lô G2, Thân quặng 1 Lô A khu Pà Lừa - Pà Rồng; Thân quặng 4 khu Khe Cao; Thân quặng 1 khu Đông Nam Bến Giằng) xác nhận khoáng hóa urani có tính dị hướng mạnh, khoảng cách ảnh hưởng theo phương kéo dài lớn hơn đáng kể so với phương vuông góc và hướng dốc.
- Xác lập nhóm mỏ thăm dò: Dựa trên các tiêu chuẩn độ phức tạp địa chất, quy mô, mức độ ổn định của chiều dày và tính đồng đều của hàm lượng, luận án xác định các mỏ urani trong cát kết bồn trũng Nông Sơn thuộc Nhóm mỏ thăm dò III (mỏ có cấu trúc địa chất phức tạp, thân quặng kích thước trung bình đến nhỏ, chiều dày không ổn định và hàm lượng phân bố không đồng đều).
- Hệ thống và mạng lưới công trình thăm dò hợp lý:
- Hệ thống công trình: Sử dụng phối hợp công trình khai đào (hào bề mặt, lò ngầm), khoan thẳng đứng lấy mẫu lõi khoan và phương pháp carota địa vật lý phóng xạ lỗ khoan.
- Mạng lưới công trình thăm dò: Bố trí dạng tuyến song song kết hợp dạng rẻ quạt hoặc hình chữ nhật. Khoảng cách định hướng tối ưu được xác lập:
- Khoảng cách giữa các tuyến (theo đường phương thân quặng): 40 - 60 m.
- Khoảng cách giữa các công trình trên tuyến (theo hướng dốc thân quặng): 25 - 30 m.
- Lựa chọn phương pháp đánh giá tài nguyên, trữ lượng:
- Tài nguyên xác định: Lựa chọn phương pháp khối địa chất làm phương pháp tính toán cơ sở vì phù hợp với đặc thù thân quặng dạng vỉa thấu kính phân bố gián đoạn, ranh giới phức tạp.
- Kiểm chứng mô hình: Ứng dụng phương pháp Kriging thông dụng (Ordinary Kriging) trong địa thống kê để đối sánh, kiểm chứng độ tin cậy và tối ưu hóa việc phân cấp trữ lượng/tài nguyên.
| Thông số thăm dò / Đánh giá |
Kết quả xác lập trong luận án |
| Nhóm mỏ thăm dò |
Nhóm mỏ III (Mỏ phức tạp) |
| Cấu trúc hình thái thân quặng |
Dạng vỉa thấu kính, chuỗi thấu kính, dạng tấm (tabulas) |
| Quy luật phân bố hàm lượng $U_3O8$ |
Phân bố loga chuẩn ($\text{Log}_{10}$), biến đổi không đồng đều đến đặc biệt không đồng đều |
| Tính dị hướng |
Dị hướng mạnh theo phương kéo dài của nón quạt/dòng cổ |
| Tổ hợp công trình thăm dò |
Khai đào (hào, lò) + Khoan thẳng đứng + Carota phóng xạ |
| Khoảng cách giữa các tuyến (đường phương) |
40 - 60 m |
| Khoảng cách công trình trên tuyến (hướng dốc) |
25 - 30 m |
| Dạng hình học mạng lưới |
Dạng tuyến song song kết hợp rẻ quạt hoặc hình chữ nhật |
| Phương pháp tính tài nguyên/trữ lượng |
Phương pháp khối địa chất (kết hợp Ordinary Kriging kiểm chứng) |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các kết quả khoa học và đóng góp mới cụ thể sau:
- Về quy luật tướng đá - cấu trúc thân quặng: Xác định các lớp đá chứa quặng urani trong cát kết Trias muộn bồn trũng Nông Sơn tồn tại dưới 2 dạng tương ứng với 2 phức hệ tướng đá:
- Lớp đá chứa quặng dạng vỉa thấu kính phân bố dạng hình cánh cung theo đường bờ cổ thuộc phức hệ tướng cát hạt thô, hạt nhỏ nón quạt ngầm ven bờ.
- Lớp đá chứa quặng dạng vỉa thấu kính định hướng song song thuộc phức hệ tướng cát hạt trung, hạt nhỏ biển nông vũng vịnh.
- Về đặc điểm biến hóa không gian quặng hóa: Làm sáng tỏ 03 phương diện biến hóa của các thông số địa chất công nghiệp: thân quặng dạng vỉa thấu kính, chuỗi thấu kính liên kết trong tầng đá nhất định; chiều dày biến đổi nhảy vọt, gián đoạn, không có quy luật; hàm lượng $U_3O_8$ tuân theo phân bố loga chuẩn, biến đổi không đồng đều đến đặc biệt không đồng đều và có đặc tính dị hướng rõ rệt.
- Về phân nhóm mỏ thăm dò: Luận giải và xếp các khu mỏ urani trong cát kết bồn trũng Nông Sơn vào Nhóm mỏ thăm dò III.
- Về hệ thống và mạng lưới thăm dò: Xác lập hệ thống thăm dò kết hợp khai đào, khoan thẳng đứng và đo carota địa vật lý; định hướng mạng lưới công trình dạng tuyến song song kết hợp rẻ quạt/hình chữ nhật với khoảng cách tuyến 40 - 60 m và công trình trên tuyến 25 - 30 m.
- Về phương pháp tính tài nguyên/trữ lượng: Xác lập việc sử dụng phương pháp khối địa chất làm phương pháp tính trữ lượng chủ đạo, kết hợp phương pháp Kriging thông dụng để kiểm chứng mô hình, nâng cao độ tin cậy đánh giá.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Áp dụng hệ thống mạng lưới thăm dò (40 - 60 m × 25 - 30 m) và phương pháp tính trữ lượng khối địa chất kết hợp Kriging cho các đề án thăm dò tiếp theo tại các khu vực Khe Hoa - Khe Cao, Đông Nam Bến Giằng, Khe Lốt.
- Sử dụng kết quả nghiên cứu làm cơ sở dữ liệu để cơ quan quản lý nhà nước xây dựng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật về công tác thăm dò urani trong cát kết tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nguồn dữ liệu thăm dò chi tiết và công tác tính toán trữ lượng cấp 122 của luận án tập trung chủ yếu tại diện tích khu Pà Lừa - Pà Rồng. Các diện tích khác trong bồn trũng Nông Sơn (như Khe Hoa - Khe Cao, Khe Lốt, Đông Nam Bến Giằng, Cà Liêng - Sườn Giữa) phần lớn mới dừng ở mức điều tra, tìm kiếm và đánh giá sơ bộ, mức độ công trình khống chế chưa đồng đều.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục mở rộng nghiên cứu, thu thập và đối sánh số liệu khi triển khai các đề án thăm dò chi tiết tại các khu vực tiềm năng lân cận và các khu vực mới được khoanh định trong Đề án "Đánh giá tổng thể tiềm năng khoáng sản vùng Trung Trung Bộ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội" của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Cung cấp tài liệu tham khảo phương pháp luận kết hợp giữa nghiên cứu tướng đá - cổ địa lý, địa hóa khoáng vật phóng xạ và kỹ thuật địa thống kê (Variogram, Kriging) trong mô hình hóa thân quặng.
- Đối với các đơn vị sản xuất địa chất (Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm): Cung cấp trực tiếp các thông số kỹ thuật (khoảng cách mạng lưới, dạng ô mạng, phương pháp tính trữ lượng) để thiết kế đồ án và thi công thăm dò các mỏ urani cát kết.
- Đối với các cơ quan quản lý (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Địa chất Việt Nam, Cục Khoáng sản Việt Nam, Hội đồng Đánh giá Trữ lượng Khoáng sản Quốc gia): Cung cấp căn cứ khoa học xác thực phục vụ công tác thẩm định, phê duyệt trữ lượng và xây dựng quy chuẩn kỹ thuật thăm dò urani quốc gia.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ chế hình thành quặng urani trong cát kết bồn trũng Nông Sơn diễn ra như thế nào?
Quá trình tạo quặng mang nguồn gốc thấm đọng ngoại sinh. Urani bị phong hóa, hòa tan từ các phức hệ đá móng granitoit và đá biến chất cổ (Khâm Đức - Núi Vú, Đại Lộc, Bến Giằng - Quế Sơn) thành dung dịch ion uranyl $UO_2^{2+}$ trong môi trường oxy hóa. Dung dịch thấm lọc qua các tầng cát kết arko xốp thấm thuộc hệ tầng An Điềm; khi gặp barie địa hóa khử (giàu vật chất than bùn, axit humic và pyrit), urani bị khử về dạng $U^{4+}$ và kết tủa tạo thành quặng nasturan, coffinit cùng các khoáng vật thứ sinh.
2. Tại sao các khu mỏ urani trong cát kết Nông Sơn lại được xếp vào Nhóm mỏ thăm dò III?
Các khu mỏ được xếp vào Nhóm mỏ III do cấu trúc địa chất phức tạp, thân quặng có dạng vỉa thấu kính/chuỗi thấu kính phân bố không liên tục, chiều dày biến đổi nhảy vọt (thuộc loại không ổn định), hàm lượng $U_3O_8$ tuân theo quy luật phân bố loga chuẩn và biến đổi từ không đồng đều đến đặc biệt không đồng đều, đồng thời có tính dị hướng không gian mạnh.
3. Mạng lưới công trình thăm dò tối ưu được luận án xác lập có thông số kích thước bao nhiêu?
Luận án xác lập mạng lưới thăm dò tối ưu dạng tuyến song song kết hợp rẻ quạt hoặc hình chữ nhật với khoảng cách giữa các tuyến (theo đường phương thân quặng) là 40 - 60 m và khoảng cách giữa các công trình trên một tuyến (theo hướng dốc thân quặng) là 25 - 30 m.
4. Luận án đề xuất sử dụng phương pháp nào để tính toán tài nguyên và trữ lượng urani?
Luận án đề xuất sử dụng phương pháp khối địa chất làm phương pháp tính toán cơ sở và kết hợp phương pháp Kriging thông dụng (Ordinary Kriging) trong địa thống kê để đối sánh, kiểm chứng độ tin cậy của kết quả khoanh định và tính trữ lượng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Lê Châu là công trình nghiên cứu chuyên sâu, giải quyết trọn vẹn cơ sở khoa học và thực tiễn về đặc tính biến hóa không gian của các thông số địa chất thân quặng urani trong cát kết Trias muộn bồn trũng Nông Sơn. Tác giả đã xác lập mô hình phân nhóm mỏ thăm dò loại III, chuẩn hóa mạng lưới công trình thăm dò tối ưu (40 - 60 m × 25 - 30 m) và đề xuất quy trình tính trữ lượng bằng phương pháp khối địa chất kết hợp Kriging thông dụng kiểm chứng. Kết quả nghiên cứu đóng góp trực tiếp vào việc hoàn thiện phương pháp luận thăm dò khoáng sản phóng xạ và phục vụ hiệu quả cho Chiến lược khoáng sản quốc gia.