CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT - KHOÁNG SẢN BỒN TRŨNG NÔNG SƠN 1. Tổng quan vùng nghiên cứu 1. Vị trí địa lý Bồn trũng Nông Sơn thuộc địa phận huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam. Trung tâm bồn cách thành phố Đà Nẵng khoảng 100 km về phía tây nam theo quốc lộ 14B.
Khu vực nghiên cứu thuộc miền địa hình núi cao trung bình, độ cao từ 250m đến 1034m, các dải núi kéo dài theo phương tây bắc - đông nam, với bề mặt sườn lồi lõm và độ dốc phổ biến trong khoảng 20 - 35o; theo đó vỏ phong hóa trong khu vực được bảo tồn khá tốt. Phủ trên bề mặt địa hình là thảm thực vật gồm cây thân gỗ, cây dây leo và cây thân thảo. Mạng sông suối khá phát triển, chiều dài và độ dốc cũng rất khác nhau như Sông Cái, Sông Vu Gia, Sông Côn, Sông Bung, Sông A Vương. Hệ thống giao thông chính đã được đầu tư, xây dựng, đường ô tô liên tỉnh, liên huyện.
Tuy nhiên việc đi lại còn khá nhiều khó khăn gây không ít cản trở cho việc điều tra, nghiên cứu địa chất. Vị trí địa chất bồn trũng Nông Sơn trên bình đồ cấu trúc khu vực Hiện tại, có khá nhiều quan điểm về vị trí kiến tạo của bồn trũng Nông Sơn trên bình đồ cấu trúc khu vực. Phan Văn Quýnh và nnk (1992) [38] coi kiến trúc của bồn trũng Nông Sơn có dạng địa hào chồng chéo (địa hào Sông Bung phương tây bắc - đông nam và địa hào Nông Sơn phương đông - tây) được thành tạo bởi các hệ thống đứt gãy khác nhau. Nguyễn Văn Trang (1986) [54] xếp khu vực nghiên cứu vào đới Nông Sơn, trong đó phức hệ Mesozoi hạ đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành đới Nông Sơn.
Trần Văn Trị, Đặng Vũ Khúc và nnk (2009) [55] đã chia lãnh thổ Việt Nam thành 03 đơn vị kiến tạo lớn, đó là: Các địa khu lục địa tiền Cambri bị tái biến cải trong Phanerozoi, Hệ tạo núi đa kỳ Neoproterozoi - Mesozoi sớm và Các trũng nội lục Paleozoi muộn - Kainozoi. Các đơn vị kiến tạo lớn này được chia thành nhiều đơn vị kiến tạo nhỏ được đặc trưng bởi các phức hệ địa chất hoặc tổ hợp thạch kiến tạo khác nhau; trong đó, Bồn trũng Nông Sơn được các tác giả này xem là một bộ phận của 8 hệ rift nội lục sau va chạm Mesozoi Sông Bung-An Khê được hình thành trên vỏ lục địa căng giãn trong giai đoạn Trias giữa - Jura giữa. Trên bình đồ cấu trúc kiến tạo lãnh thổ Việt Nam (hình 1.1), trũng Nông Sơn nằm chồng lên đai tạo núi Paleozoi sớm-giữa Quảng Đà và một phần chồng lên á địa khu Nam - Ngãi. Năm 2014, Trần Thanh Hải và nnk [72] xem bồn Nông Sơn là hậu quả của quá trình căng giãn hậu va chạm giữa các mảng Đông Dương và Sibumasu.
Vị trí kiến tạo vùng nghiên cứu trên sơ đồ cấu trúc khu vực (Theo Trần Văn Trị và Vũ Khúc, 2009) [55] 9 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu địa chất và khoáng sản 1. Các công trình nghiên cứu địa chất khu vực, đo vẽ bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản Công tác nghiên cứu địa chất trước năm 1975 còn hạn chế, chủ yếu là các công trình nghiên cứu địa chất khu vực, phát hiện khoáng sản của các nhà địa chất Pháp và các nhà Địa chất Miền nam Việt Nam. Trong giai đoạn này, công tác nghiên cứu địa vật lý có công trình đo và thành lập bản đồ từ tỷ lệ 1: 25.000 của hải quân Mỹ.
Sau năm 1975, công tác nghiên cứu địa chất đã được thực hiện có hệ thống trên toàn miền Nam; trong đó có khu vực nghiên cứu, đáng chú ý là các công trình nghiên cứu sau: - Năm 1982, E. Saladin nghiên cứu mặt cắt chứa than; tiếp sau là công trình nghiên cứu của E. Trong đó, đáng chú ý là công trình nghiên cứu địa tầng của J. Trong công trình này, ông chia các trầm tích vùng Nông Sơn ra hai phân vị: phức hệ Nông Sơn với các thành tạo chứa than được đặc trưng bởi tập hợp hoá thạch thực vật Hòn Gai và hệ tầng Thọ Lâm với các thành tạo sét kết vôi, cát kết vôi đặc trưng bởi hoá thạch biển chân đầu.
- Công tác điều tra địa chất khu vực và nghiên cứu về urani chỉ thực sự được tiến vào những năm 1980, với việc phát hiện khoáng sản urani ở Tiên An, than Nông Sơn và đặc biệt là phát hiện loại hình urani trong cát kết bồn trũng Nông Sơn. Năm 1975 - 1983, Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao lập bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1: 500.000; năm 1986, Nguyễn Văn Trang lập bản đồ địa chất nhóm tờ Huế - Quảng Ngãi tỷ lệ 1:2 00.000 và hiệu đính năm 1996. - Trong các năm từ 1985 - 1988, Đoàn 82 thuộc Liên đoàn Vật lý Địa chất đã tiến hành bay đo từ phổ hàng không tỷ lệ 1: 25.000 trên diện tích vũng trũng Nông Sơn khoảng 800km2. Song song với công tác này, Liên đoàn Địa chất 10 (nay là 10 Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm) đã tiến hành khảo sát mặt đất tìm kiếm phóng xạ trên diện tích này.
Kết quả đã xác định được khu vực Khe Hoa - Khe Cao, Tabhing, An Điềm. là những khu có triển vọng về urani. - Năm 1983 - 1991: Liên đoàn Địa chất 10 đã tiến hành điều tra tỷ lệ 1: 50.000 trên toàn bể than Nông Sơn đã khẳng định được nhiều diện tích có triển vọng cho công tác điều tra tiếp theo. - Năm 1990 - 1991: Đoàn 209 (Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam) đã tiến hành kiểm tra một số cụm dị thường phóng xạ hàng không ở tỷ lệ 1: 25.000 và đề nghị tìm kiếm chi tiết khu Tabhing.
- Năm 1993 - 1997: Liên đoàn Địa chất 10 đã tiến hành tìm kiếm tỷ lệ 1:25.000 trên diện tích 150km2 vùng Tabhing và tìm kiếm chi tiết tỷ lệ 1:10.000 trên diện tích 28km2. Kết quả đã khẳng định vùng Tabhing là vùng có triển vọng về urani và Pà Lừa - Pà Rồng là hai khu có triển vọng về urani và đề nghị đánh giá chi tiết 2 khu này. Các công trình nghiên cứu chuyên đề Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về địa chất khoáng sản nói chung, quặng urani nói riêng trong trũng Nông Sơn được tiến hành khá đồng bộ và liên tục từ 1995 đến nay, trong đó đáng chú ý là các công trình: - Trịnh Xuân Bền, 1995. Đặc điểm địa hoá - khoáng vật quặng phóng xạ khu vực Khe Hoa - Khe Cao, bể than Nông Sơn.
Luận án Phó Tiến sĩ Địa lý - Địa chất. Trong luận án tác giả đã đề cập đến nguồn gốc thành tạo quặng urani, môi trường thành tạo và nguồn cung cấp quặng urani trong trũng Nông Sơn, bước đầu đề cập đến mô hình kiểu mỏ urani trong cát kết ở khu Khe Hoa - Khe Cao. - Nguyễn Linh Ngọc, 1997. Tướng đá - cổ địa lý các thành tạo trầm tích Trias thượng bồn trũng Nông Sơn và khoáng sản liên quan.
Trong công trình này tác giả đã tập trung nghiên cứu về tướng đá cổ địa lý các thành tạo Trias thượng trong trũng Nông Sơn và đưa ra bức tranh tổng quát về khoáng sản liên quan. - Trần Nghi, Nguyễn Quang Hưng, Nguyễn Trọng Chi, 1997. Đặc điểm thạch học - tướng đá và thành phần vật chất quặng vùng TaBhing- Quảng Nam. Trong công trình này, các tác giả đã tập trung luận giải về đặc điểm thạch học, tướng đá và đặc điểm thành phần vật chát quặng urani trong vùng Tabhinh.
11 - Nguyễn Văn Hoai và nnk, 2002. Báo cáo nghiên cứu đánh giá tiềm năng urani ở khối nhô Kon Tum và Tú Lệ. Trong báo cáo, tác giả cũng đã đề cập đến mô hình thành tạo các kiểu mỏ urani trong cát kết ở trũng Nông Sơn. - Nguyễn Quang Hưng, 2002.
Đặc điểm thạch học và quặng hóa urani trong tầm tích Trias muộn bồn trũng Nông Sơn. - Nguyễn Tuấn Phong, 2002. Nghiên cứu, dự báo triển vọng khoáng hóa urani bồn trũng Nông Sơn trên cơ sở phân tích tài liệu địa vật lý. - Nguyễn Đắc Đồng, Nguyễn Quang Hưng và nnk, 2005.
Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ: Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá tổng quan tài nguyên, trữ lượng urani ở Việt Nam. Trên cơ sở so sánh với các kiểu mỏ công nghiệp urani trên thế giới, các tác giả đưa ra một số tiêu chuẩn địa chất đặc điểm các kiểu mỏ urani có triển vọng và có thể có triển vọng ở Việt Nam. - Nguyễn Phương và nnk, 2008. Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả công tác tìm kiếm - thăm dò urani trên lãnh thổ Việt Nam phục vụ chương trình phát triển điện hạt nhân.
- Nguyễn Đắc Sơn và nnk, 2014. Nghiên cứu xây dựng các mô hình kiểu mỏ urani trong cát kết ở Việt Nam, đề tài cấp Bộ. - Nguyễn Trường Giang, 2018. Đặc điểm cấu trúc - kiến tạo phần tây bắc bồn trũng Nông Sơn, Quảng Nam và sự tạo khoáng urani trong cát kết.
Karpinski “FGBU - VSEGEI”, 2018. Xác lập đặc điểm thạch học - tướng đá, điều kiện thành tạo quặng urani khu vực Pà Lừa-Pà Rồng. Các công trình điều tra, đánh giá và thăm dò urani đã tiến hành Từ năm 1992 - 2021, Liên đoàn Địa chất 10 (Nay là Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm) đã tiến hành nhiều đề án tìm kiếm, đánh giá, thăm dò quặng urani cát kết ở bồn trũng Nông Sơn gồm: - Năm 1992 - 1995: Đã tìm kiếm chi tiết khu vực Khe Hoa - Khe Cao trên diện tích 36km2 tỷ lệ 1:10.000 và đánh giá tỷ lệ 1:5.000 trên diện tích 3km2; đã khoan 7. Kết quả đã phát hiện 2 tập đá chứa quặng 12 với 4 lớp đá chứa quặng với hàm lượng trung bình từ 0,04 đến 0,06% U 3O8.
Đây là khu mỏ có triển vọng cần được đầu tư thăm dò. - Năm 1995 - 2000: Đã tìm kiếm khu vực An Điềm tỷ lệ 1:10.000 trên diện tích 20km2, đánh giá tỷ lệ 1:2.000 trên diện tích 2,0km2; đã khoan 900m, đào hơn 2000m3 hào. Kết quả đã phát hiện 3 tập đá chứa quặng với 7 lớp đá chứa quặng, hàm lượng từ 0,02 đến 0,06% U3O8 bề dày lớp đá chứa quặng mỏng. Đây là khu ít có triển vọng.
- Năm 1997 - 1999: Đã tiến hành đánh giá quặng urani khu Pà Lừa với diện tích 2,8km2; đã thi công 14 lỗ khoan với khối lượng 1.519,6m, đào 124 khoang hào với khối lượng 2.926m3 và đã khẳng định đây là khu mỏ có giá trị. - Năm 1999 - 2003: Đã tìm kiếm chi tiết khu vực Đông Nam Bến Giằng trên diện tích 19km2 tỷ lệ 1:10.000 và đánh giá tỷ lệ 1:2.