chương 1---------- CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 - NĂNG SUẤT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 2.1 - Khái niệm chung về năng suất: Vào năm 1776, nhà kinh tế học người Anh Adam Smith, trong cuốn sách “Sự thịnh vượng của một quốc gia” đã cho rằng cải tiến năng suất có thể đạt được thông qua “Sự phân chia lao động”, bằng việc chuyên môn hoá công nhân, mỗi người làm một công việc khác nhau với các chức năng khác nhau trong một đầu mối công việc tổng thể sẽ đem lại hiệu quả hơn là việc để một người làm toàn bộ các công đoạn từ đầu đến cuối. Adam Smith nhận thấy rằng cách này có thể khiến cho người công nhân trở nên thành thạo hơn trong công việc của mình, dẫn đến hiệu quả làm việc cao hơn. Lợi nhuận có được từ việc thay đổi những công đoạn trong hệ thống dây chuyền đã được thể hiện rõ ràng trên thực tế bằng sự cải tiến dây chuyền sản suất của Henry Ford. Đây có thể coi là những đóng góp tiên phong trong nhận thức về năng suất.
(Nguyễn Thị Lê Hoa, Năng suất-yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế, truy cập ngày 02/4/2012 từ http://vpc. Sau Adam Smith, một số nhà kinh tế học khác đã tiếp tục nghiên cứu, phát triển những phương pháp để tăng năng suất lao động, đó là Charles Babbage, Fredick Winslow Taylor, Henry Lawrance Gantt- người xây dựng lên “Biểu đồ Gantt” nổi tiếng, Elton Mayo và các cộng sự của ông… Theo khái niệm năng suất cổ điển thì năng suất có nghĩa là năng suất lao động hoặc hiệu suất sử dụng các nguồn lực. Vì khái niệm năng suất xuất hiện trong một bối cảnh kinh tế cụ thể, nên trong giai đoạn đầu sản xuất công nghiệp, yếu tố lao động là yếu tố được coi trọng nhất. Ở giai đoạn này, người ta thường hiểu năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động.
Qua một thời kỳ phát triển, các nguồn lực khác như vốn, năng lượng và nguyên vật liệu cũng được xét đến trong khái niệm năng suất để phản ánh tầm quan trọng và đóng góp của nó trong doanh nghiệp. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong nhiều năm đã đưa ra quan điểm tiến bộ hơn về năng suất, đó là việc sử dụng có hiệu quả những nguồn lực: vốn, đất đai, nguyên vật liệu, năng lượng, thông tin và thời gian chứ không chỉ bó hẹp trong yếu tố lao động. Nhưng nếu chỉ dừng ở quan điểm như vậy thì năng suất chỉ xét đến các yếu tố đầu vào mà chưa đề cập đến giá trị đầu ra. Mà đầu ra là yếu tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế như hiện nay.
Có thể nói, cùng với sự phát triển của kinh tế-xã hội thì phạm trù năng suất luôn được bổ sung về nội dung và hoàn thiện về phương pháp phân tích. Dưới đây là một số định nghĩa về năng suất : - Theo Từ điển Oxford: Năng suất là tính hiệu quả của hoạt động sản xuất được đo bằng việc so sánh giữa khối lượng sản xuất ra với thời gian hoặc nguồn lực được sử dụng để tạo ra nó. - Theo Từ điển kinh tế học hiện đại của MIT: Năng suất là đầu ra trên một đơn vị đầu vào được sử dụng. Tăng năng suất xuất phát từ tăng tính hiệu quả của bộ phận vốn, lao động.
Cần thiết phải đo năng suất bằng đầu ra thực tế. Nhưng rất ít khi tách riêng biệt được năng suất của nguồn vốn và lao động. - Theo Tổ chức Lao động Thế giới ILO: Năng suất là tỷ số giữa đầu ra với tổng các yếu tố đầu vào. Năng suất là kết quả cuối cùng của quá trình xã hội phức tạp gồm: khoa học, nghiên cứu và phát triển, giáo dục, công nghệ, năng lực sản xuất và tổ chức lao động.
- Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD): Một cách tổng quát, năng suất được định nghĩa là tỷ số giữa số lượng đầu ra với số lượng đầu vào được sử dụng. - Theo Tổ chức Năng suất Châu Á (APO): Năng suất là mối liên hệ giữa đầu ra với số lượng nguồn lực hay đầu vào như lao động, vật liệu, máy móc, năng lượng… dùng để sản xuất. - Theo Bộ Lao động của Mỹ: Năng suất là chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế trong việc biến đầu vào thành đầu ra. - Theo Trung tâm Năng suất Nhật Bản: Năng suất là đại lượng đo bằng tỷ số giữa đầu ra và đầu vào, nhưng đầu ra luôn được đo bằng giá trị tăng thêm.
- Theo các nhà kinh tế New Zeland: Năng suất là khả năng của nền kinh tế trong việc biến đầu vào thành đầu ra.2 Khái niệm năng suất theo cách tiếp cận mới Định nghĩa năng suất theo đúng bản chất được hiểu một cách hết sức đơn giản. Nó là mối quan hệ (tỷ số) giữa đầu ra và đầu vào được sử dụng để hình thành đầu ra đó. (Trung tâm năng suất Việt Nam, Thuật ngữ năng suất chất lượng, truy cập ngày 02/4/2012 từ http://vpc.aspx/Tu-dien-N/N/Nang_suat,) Quan hệ giữa đầu vào và đầu ra được biểu thị bằng công thức : Đầu ra Năng suất ═ ───────── Đầu vào Theo cách định nghĩa này thì nguyên tắc cơ bản của tăng năng suất là thực hiện phương thức để tối đa hoá đầu ra và giảm thiểu đầu vào. Thuật ngữ đầu vào, đầu ra được diễn giải khác nhau theo sự thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội.
Đầu ra thường được gọi với những cụm từ như tập hợp các kết quả. Đối với các doanh nghiệp, đầu ra được tính bằng tổng giá trị sản xuất - kinh doanh, giá trị gia tăng hoặc khối lượng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật. Ở cấp vĩ mô thường sử dụng Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) là đầu ra để tính năng suất. Đầu vào trong khái niệm này được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra như lao động, nguyên vật liệu, vốn, thiết bị máy móc, năng lượng, kỹ năng quản lý.
Như vậy, nói về năng suất, nhất thiết phải đề cập tới 2 khía cạnh, khía cạnh đầu vào và đầu ra. Khía cạnh đầu vào thể hiện hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Khía cạnh đầu ra thể hiện giá trị sản phẩm và dịch vụ. Tuy nhiên, những cách tiếp cận mới gần đây nhấn mạnh hơn vào khía cạnh đầu ra của năng suất để đáp ứng được với những thách thức của môi trường cạnh tranh và những mong đợi của xã hội.
Năng suất còn được hiểu là một tư duy hướng tới thói quen cải tiến và vận dụng những cách thức biến mong muốn thành các hành động cụ thể. Theo cách tiếp cận này, năng suất là không ngừng cải tiến để vươn tới sự tốt đẹp hơn. Ngày hôm nay phải tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay. Điều này có thể thực hiện được nhờ vào các nỗ lực cá nhân và tập thể không ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng, kỷ luật, các hoạt động phát huy tinh thần sáng tạo cũng như việc quản lý công việc tốt hơn, phương pháp làm việc tốt hơn, giảm thiểu chi phí, giao hàng đúng hạn, hệ thống và công nghệ tốt hơn để đạt được sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao, thị phần lớn hơn và mức sống cao hơn.
(Trung tâm năng suất Việt Nam, Năng suất, truy cập ngày 02/4/2012 từ : http://www.vn/Nang_suat) Ở Việt Nam, nhiều người vẫn hiểu năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động nhưng thực tế ý nghĩa của năng suất mang tính toàn diện hơn nhiều (Văn Tình-Lê Hoa, 2003, Đo lường năng suất tại doanh nghiệp, NXB Thế giới, Tr10- 11). Một dự án nghiên cứu về các khái niệm năng suất do các nước thành viên Tổ chức Năng suất Châu Á thực hiện năm 1995 đã nêu rõ cách hiểu năng suất theo cách tiếp cận mới một cách chung nhất và cơ bản nhất như sau: Nhấn mạnh vào giảm lãng phí trong mọi hình thức Năng suất là làm việc thông minh hơn chứ không phải nhiều hơn Nguồn nhân lực và khả năng tư duy của con người đóng vai trò quan trọng nhất trong việc đạt được năng suất cao hơn và hành động là kết quả của quá trình tư duy. Tăng năng suất đồng nghĩa với sự đổi mới và cải tiến liên tục. Năng suất được coi là biểu hiện của cả hiệu quả và hiệu lực trong việc sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu.
Năng suất theo cách tiếp cận mới là năng suất gắn với bảo vệ môi trường, vì thế xuất hiện khái niệm năng suất xanh, năng suất sạch 2.3 Sự khác nhau giữa Năng suất theo cách tiếp cận mới với Năng suất truyền thống: Truyền thống Năng suất mới Hướng theo đầu vào Hướng theo kết quả đầu ra Chủ yếu là lao động và vốn (cứng) Đa yếu tố (cứng + mềm; cả hữu hình và vô hình) Chủ yếu là năng suất lao động Gồm nhiều loại năng suất (chung; bộ phận; tổng hợp) Tính theo hiện vật và giá trị sản Chủ yếu tính theo giá trị, nhất là giá xuất. trị gia tăng An toàn cho người và môi trường Phát triển bền vững 2.4 Đặc điểm của năng suất: Theo Các Mac: Suy cho cùng, năng suất quyết định sự thắng thế của 1 chế độ này với chế độ khác Năng suất là biểu trưng cho phương thức sản xuất (PTSX): PTSX=Lực lượng SX+ Quan hệ SX =Phần cứng + Phần mềm Lực lượng SX (Phần cứng) = Tài nguyên,máy móc, công cụ, con người = Vốn + Lao động Quan hệ SX (P.Sở hữu + QH.Tổ chức sản xuất+ QH.phân phối PTSX luôn biến đổi trước và vượt trước QHSX NS phụ thuộc: Vốn+Lao động+ Phần mềm (chiếm ngày càng lớn trong kinh tế tri thức) = K + L + TF (Các nhân tố tổng hợp-mềm) 2.5 Một số đặc điểm của năng suất trong bối cảnh kinh tế xã hội ngày nay (theo Nguyễn Thị Lê Hoa, Yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển kinh tế, truy cập ngày 02/4/2012 từ : http://vpc.vn) - Đầu ra là yếu tố quan trọng nhất trong tăng trưởng năng suất: Trong bối cảnh cạnh tranh, các doanh nghiệp phải coi trọng tính hiệu lực của sản phẩm và dịch vụ thay vì chỉ quan tâm đến sản lượng như trước đây, coi nó là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược chung của doanh nghiệp. Xác định tính hiệu lực là việc trả lời câu hỏi: “chúng ta có làm đúng việc không?” và “chúng ta đang sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được yêu cầu của khách hàng - Để nâng cao năng suất cần tiếp tục nhấn mạnh vào giảm lãng phí Việc quyết định sản xuất sản phẩm và dịch vụ dựa vào nguyên vật liệu sử dụng và công nghệ ứng dụng là khía cạnh hiệu suất trong khái niệm năng suất.