Chương 1 ĐÀN TAM THẬP LỤC VÀ KHOA KỊCH HÁT DÂN TỘC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÂN KHẤU VÀ ĐIỆN ẢNH HÀ NỘI 1. Một số khái niệm Về cơ sở lý luận thì một trong những vấn đề cần nghiên cứu đó là xem xét các khái niệm và thuật ngữ có liên quan mật thiết đến của đề tài là vô cùng cần thiết. Trong luận văn văn, chúng tôi sẽ nghiên cứu một số khái niệm như: Đàn tam thập lục, chèo, làn điệu chèo, lưu không, xuyên tâm, hệ thống Đường trường, truyền dạy, đệm tòng. để có cơ sở thiết yếu mở lối cho những nghiên cứu tiếp theo.
Chèo Với khái niệm của Chèo, có nhiều cách giải thích khác nhau ngay tại các sách từ điển, ví dụ như Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Vietlex, Nxb Đà Nẵng in năm 2008: “Chèo là một loại hình kịch hát dân gian cổ truyền, làn điệu bắt nguồn từ dân ca Bắc Bộ” [26, tr. Trong cuốn Việt Nam từ điển của Hội Khai Trí Tiến Đức in năm 1954 lại cho rằng Chèo là “lối hát tựa như hát Bội” và trước đó Bội là “cuộc diễn trò, cuộc hát Tuồng” [12]. Hay Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ có giải thích Chèo là “kịch hát dân gian cổ truyền, là điệu bắt nguồn từ dân ca” [36]. Còn Từ điển Văn học lại ghi: “Chèo là hình thức kịch hát dân gian Việt Nam, một loại hình kể chuyện bằng sân khấu độc đáo của dân tộc.
Còn một số nhà nghiên như Tô Vũ, Hoàng Kiều, Đình Ngôn, Hà Hoa có cái nhìn như sau Theo tác giả Tô Vũ cho rằng: Chèo là một sự tích “hát” và “diễn” trên sân khấu với sự cộng tác của một dàn nhạc đệm; Chèo là một sản phẩm nghệ thuật sân khấu gồm một nội dung phong kiến bình dân (do bình dân tạo tác hay mô phỏng) dưới những triều đại thịnh trị đóng kinh đô ngoài Bắc và 9 một hình thức đặt trên cơ sở ngôn ngữ và âm thanh tiếng nói Bắc Bộ [37, tr. Như vậy, hầu hết các vở Chèo đều bắt nguồn từ một tích truyện nào đó. Dựa vào, các nghệ nhân đã sáng tạo “bẻ làn, nắn điệu” nên những lời ca tiếng hát, những giai điệu, điệu múa, nhạc đệm. cho phù hợp với nhân vật.
Trong cuộc thảo luận khoa học về nghệ thuật sân khấu Chèo tại trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh (tháng 10 năm 2014) tác giả Trần Đình Ngôn cho rằng: “tích là văn” (cốt truyện) còn “dịch là diễn”. Tác giả Hà Hoa lại đưa ra một công thức về Chèo đó là: Tích + DịchTrò. Theo tác giả, Chèo là chữ Trò đọc chệch”, chữ Trò chính là bao hàm nhiều loại hình, thể loại nghệ thuật như cốt truyện, trang trí, hát, múa, diễn, nhạc cụ, đạo cụ, trang phục. thông qua các nghệ nhân, nghệ sĩ và khán giả tạo thành.
Trong nghệ thuật Chèo có ba thành tố căn bản nhất là Múa, Hát, Diễn theo các thủ pháp có những đặc điểm, đặc trưng riêng biệt mới tạo thành Trò, tức là Chèo [15]. Tóm lại, Chèo là một nghệ thuật sân khấu lâu đời mang đậm bản sắc dân tộc Việt, được tộc người Kinh sáng tạo và phát triển chủ yếu ở vùng Châu thổ sông Hồng. Đây là một trong những loại hình sân khấu dân gian vô cùng phong phú, đậm tính quần chúng, giàu tính ước lệ, cách điệu, tổng hợp từ nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau dựa trên ba yếu tố không thể tách rời: Hát, Múa và Diễn. Làn điệu chèo Làn điệu là điệu hát dân ca.
Làn điệu cách gọi một điệu hát, có thể gặp cách gọi này trong nghệ thuật sân khấudân gian và dân ca. Tác giả Hoàng Kiều nhận định “trong Chèo cổ có khoảng trên dưới 200 làn điệu và chúng ta mới chỉ sử dụng tối đa dưới 100 làn điệu, còn khoảng 100 làn điệu chưa hề được khai thác sử dụng” [15, tr. Sự đa dạng và phong phú các làn điệu trong Chèo cổ một phần là sự sáng tạo không ngừng của các lớp thế hệ nghệ nhân nối tiếp nhau, một phần khác cũng hết sức quan trọng đó là sự tiếp thu, học hỏi từ các loại hình nghệ 10 thuật khác như từ ca hát dân ca cổ truyền vùng Châu thổ Bắc Bộ như: Hát Xoan, hát Cò lả - trống quân, hát Xẩm, hát Ả Đào, hát Quan họ, hát Văn… thậm chí Chèo còn tiếp thu cả hát dân ca Huế ví như vở Chèo cổ Chu Mãi Thần. Trong cuốn “Âm nhạc sân khấu Chèo nửa cuối thế kỷ XX”, Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh, Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Thanh Phương (2004) có đoạn: Làn điệu trong âm nhạc Chèo không phải là chung một phạm trù mà hai: Làn và điệu.
Cái hơi nhạc (air musical) được gọi là làn - làn không định hình trong một thể nhất định. Làn là sản phẩm của nghệ thuật ứng tác, ứng diễn tự do theo phương thức dân gian. Điệu cũng lấy chất liệu từ làn nhưng cấu trúc chặt chẽ, định hình nghiêm chỉnh có sử dụng kỹ thuật cao hơn. Điệu có thể phát triển đến phức tạp nhưng nhất thiết không được chệch khỏi làn [28, tr.
Từ những nhận định trên, ta hiểu Làn điệu là cách gọi một điệu hát; có thể gặp cách gọi này trong nghệ thuật sân khấu dân gian và dân ca; điệu hát dân ca, về mặt cấu trúc có nhịp điệu riêng, ví dụ như làn điệu dân ca Nam Bộ, làn điệu Quan họ, làn điệu hát Sắp trong Chèo cổ… Như vậy, bản thân làn điệu phải có hình thức và cấu trúc đầy đủ, chứa đựng nội dung đặc trưng phản ánh điệu hát đó. Trong Chèo có rất nhiều làn điệu, những làn điệu có một số đặc điểm (khúc thức, cấu trúc, tiếng đệm, thể thơ, cách lồng điệu, tính chất, …) khá tương đồng với nhau được xếp thành từng nhóm riêng biệt gọi lại Hệ thống làn điệu, chúng được sắp xếp theo các hệ thống khác nhau, như các Hệ thống: Sắp, Hề, Vỉa, Vãn, Sử, Đường trường, … 1. Hệ thốnglàn điệu Chèo Trong Chèo có rất nhiều làn điệu, những làn điệu có nhiều yếu tố tương đồng (khúc thức, tiếng đệm, thể thơ, tính chất giai điệu,…) thường được xếp thành từng nhóm riêng biệt gọi lại Hệ thống làn điệu. Mỗi hệ thống làn điệu được xây dựng gần như có quy chuẩn khá rõ ràng, tạo nên 11 những đặc điểm nhận biết khác nhau cho từng hệ thống làn điệu Chèo, như Hệ thống Đường trường, Vãn, Sử, Hề, Sắp, Vỉa … Như trên đã trình bày, làn điệu Chèo có nhiều hệ thống.
Các làn điệu đó có cấu trúc, lời thơ, tiếng đệm, lưu không, xuyên tâm khá tương đồng, chưa kể chúng có ít nhất một câu nhạc giống nhau thì được xếp chúng vào thành một hệ thống. Chưa kể về tên gọi, phần lớn chúng được gọi tên những chữ đầu giống nhau, VD như hệ thống hát Sắp có các làn điệu Sắp đan lồng, Sắp cổ phong, Sắp mưa ngâu, Sắp bắt hề, Sắp qua cầu, Sắp thường, Sắp Chờ …; Hệ thống Đường trường có các làn điệu Đường trường tiếng đàn, Đường trường duyên phận, Đường trường trong rừng, Đường trường thu không, Đường trường trên non. Hoặc trong hệ thống hát Vãn có các làn điệu Vãn canh, Vãn cầm, Vãn xô, Vãn theo,. hay trong hệ thống làn điệu hát Sử có Sử xếp, Sử bằng, Sử chuyện, Sử xuân, Sử chúc.
Trong tập Tìm hiểu làn điệu Chèo của cố tác giả Hoàng Kiều đã tổng hợp các yếu tố cấu thành tạo nên một hệ thống làn điệu trong hát Chèo, đó là: - Làn điệu đó phải có cùng một tên điệu - Cấu trúc nhạc và thơ có sự tương đồng - Nội dung biểu hiện có tình cảm khá tương đồng - Trong làn điệu tối thiểu phải có một câu nhạc giống nhau - Có tiếng đệm, Lưu không, Xuyên tâm, Ngân đuôi, có tiết tấu tương đồng [18, tr. Đệm tòng cho làn điệu Chèo Đệm tòng trong biểu diễn Chèo nói chung, trong những làn điệu Chèo nói riêng khá phong phú đa dạng. Có thể đệm ở tốc độ rất nhanh, đồng thời cũng có tốc độ chậm rãi hoặc tính chất tha thiết trữ tình, lại có làn điệu mau lẹ, dứt khoát, khỏe khoắn. Cách đệm tòng trong Chèo của đàn TTL có nhiều kiểu, nhưng phổ biến nhất là kiểu đệm tòng cho người hát và đệm tòng cho một số nhạc cụ đi giai điệu.
12 Đệm tòng cho người hát Đệm tòng cho người hát của đàn TTL là đệm làm nền cho các làn điệu Chèo có người NS/NN hát lên giai điệu có lời ca ở các hệ thống làn điệu Chèo (hệ thống hát sắp, hệ thống hát trữ tình, Hệ thống hát vãn, hệ thống hát Đường trường…). Người hát có thể hát trình trong trình diễn vai/vở diễn, cũng có khi hát “suông” những làn điệu ngoài tích trò, không có biểu diễn. Đệm tòng cho hát thường lấy giai điệu làm điểm tựa, không lấy âm lượng, sự phô diễn hay các kỹ thuật làm tiền đề để đệm, mà thường coi trọng sự nắn nót nâng giấc, tâm sự thủ thỉ, tung hứng cho người hát. Sao cho âm thanh của đàn TTL không quá lộ liệu, mà tinh tế, đan xen hòa quyện với người diễn viên khi hát nhất là khi họ thể hiện nhân vật trong khi biểu diễn.
Các kỹ năng đệm tòng cho hát thường linh hoạt, coi trọng sự lắng nghe, tập trung và truyền cảm hứng cùng người hát sao cho đẹp giai điệu, rõ lời (có thể giọng nữ ở cung bậc trầm thì đệm tòng các nốt đi lên cao trên một hoặc hai quãng tám đúng). Nguyên tắc đệm tòng trên nhạc cụ không bao giờ được lấn át làm mờ giai điệu, mờ lời ca người hát. Trong các làn điệu Chèo, hầu hết đều có những khúc nhạc LK, XT và Ngân đuôi. Thế nên vai trò đệm tòng của các nhạc cụ nói chung của đàn TTL nói riêng khi thể hiện những câu nhạc, đoạn nhạc không lời này khá quan trọng.
Nghĩa là, các LK, XT và Ngân đuôi người hát sẽ không hát nữa, chỉ biểu diễn (múa hoặc diễn hay nói hoặc ngâm ngợi…) cho nên, người đệm đàn thường bám sát hay đi gần với giai điệu, và rất coi trọng, chú ý những âm kết của LK, XT, Ngân đuôi phải về đúng âm (cả giai điệu và tiết tấu, nhịp phách). Tuy vậy đệm tòng vẫn có cách dùng nhiều kỹ thuật trên nhạc cụ để vừa làm đẹp được giai điệu, đồng thời lại phô diễn được tiếng đàn và kỹ thuật cũng như tài năng của mình (các kỹ thuật của đàn TTL sẽ trình bày kỹ ở những phần sau).