Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm giải phẫu răng cối lớn thứ nhất và thứ hai hàm dưới 1. Đặc điểm giải phẫu ngoài răng cối lớn thứ nhất hàm dưới Răng cối lớn thứ nhất hàm dưới có kích thước lớn nhất trong tất cả các răng, thường có 5 múi: 3 múi ngoài và 2 múi trong. Chiều cao các múi giảm dần theo thứ tự: múi gần - trong, xa - trong, gần - ngoài, xa - ngoài, và múi xa.
Trên mặt ngoài có hai rãnh: rãnh gần - ngoài và rãnh xa - ngoài. RCL thứ nhất HD thường có 2 chân răng: 1 chân gần và 1 chân xa. Các rãnh chính của RCL thứ nhất HD phức tạp hơn RCL thứ hai. Rãnh trung tâm chạy từ hố tam giác gần đến hố tam giác xa.
Rãnh trong bắt đầu từ rãnh trung tâm và chạy về phía trong giữa hai múi gần trong và xa trong. Rãnh gần ngoài phân chia múi gần ngoài và xa ngoài, chạy từ rãnh trung tâm ra phía ngoài. Rãnh xa ngoài đi từ rãnh trung tâm tại vị trí giữa hố trung tâm và hố tam giác xa, chạy giữa múi xa ngoài và xa. Ba rãnh này giao nhau tạo nên kiểu rãnh giống hình chữ Y, còn có thêm các rãnh phụ tạo ra các đường thoát thức ăn khi nhai [11].1: Hình ảnh tái tạo 3 chiều răng cối lớn thứ nhất hàm dưới (Nguồn: Wheeler's Dental Anatomy, Physiology and Occlusion, 2019 [48]) 1.
Đặc điểm giải phẫu ngoài răng cối lớn thứ hai hàm dưới Răng cối lớn thứ hai hàm dưới có 4 múi: 2 múi ngoài và 2 múi trong, chỉ có một rãnh ở mặt ngoài phân chia múi gần - ngoài và xa - ngoài. Kiểu hố rãnh chính của RCL thứ hai HD được tạo từ 3 rãnh chính: một rãnh trung tâm chạy theo chiều gần xa, một rãnh ngoài và một rãnh trong. Rãnh trung tâm bắt đầu ở 4 hố tam giác gần, đi qua hố trung tâm và kết thúc ở hố tam giác xa. Rãnh ngoài ngăn cách múi gần ngoài, rãnh trong ngăn cách múi gần trong và xa trong.
Hai rãnh này chạy thẳng và tạo nên một rãnh gần như liên tục chạy từ ngoài vào trong cắt rãnh trung tâm ở hố trung tâm. Kết quả có kiểu rãnh giống hình chữ thập trên mặt nhai [11].2: Hình ảnh tái tạo 3 chiều răng cối lớn thứ hai hàm dưới (Nguồn: Wheeler's Dental Anatomy, Physiology and Occlusion, 2019 [48]) 1. Chức năng cắn khớp Mặt nhai là phần hoạt động của thân răng (đáp ứng yêu cầu ổn định chức năng và hoạt động nhai), cấu tạo bởi những rãnh và múi. Có thể là một múi (răng nanh) hay nhiều múi (răng cối lớn và cối nhỏ) hay thành bờ cắn (răng cửa) [11], [48].
Múi răng Phân làm 2 loại: - Múi tựa: múi trong hàm trên, múi ngoài hàm dưới. Tiếp khớp với chính giữa hố (trũng) của răng đối diện, trục của múi răng trùng với trục của răng đối diện. Giúp duy trì kích thước dọc của khớp cắn, có vai trò như là một đầu chày trong một cái cối. - Múi hướng dẫn: múi ngoài hàm trên, múi trong hàm dưới.
Bảo vệ má và lưỡi, vén má và lưỡi ra xa khỏi múi tựa, có vai trò như là thành của cối. Múi răng có hình cầu, tạo thành tiếp xúc dạng điểm khi các răng đối diện tiếp khớp với nhau. Những tiếp xúc dạng điểm này cho phép: - Truyền lực nhai theo trục răng. 5 - Chèn và ổn định các răng.
- Giảm mặt tiếp xúc tạo điều kiện để thức ăn thoát, hạn chế mòn răng. - Đạt được hiệu quả nhai tối đa trong khi làm việc tối thiểu. Ngược lại, nếu các múi răng bị mòn, làm tăng mặt tiếp xúc, thì nói chung không ổn định, tăng tốc độ mòn và nhai kém hiệu quả. Diện nhai rất đa dạng, có thể thành múi rãnh rõ hoặc là bị mòn phẳng đi.
Độ nghiêng của sườn múi đóng vai trò quan trọng, sườn múi dốc sẽ cải thiện hiệu quả nhai và giúp ổn định khớp cắn ở tư thế lồng múi tối đa nhưng sẽ làm tăng nguy cơ xuất hiện cản trở cắn. Cân bằng khớp cắn lý tưởng phải thỏa mãn 2 yêu cầu đối nghịch nhau: múi rãnh răng rõ nhưng không có cản trở nhai [48]. Rãnh Giữa 2 múi răng có một rãnh chính, giữa 3 múi răng thì có một hố (trũng). Rãnh chính sẽ tách ra các rãnh phụ đi trên mặt múi răng, giúp tăng hiệu quả nhai và tạo đường thoát cho thức ăn.
Hướng và vị trí của những rãnh này tạo điều kiện cho vận động sang bên của múi răng đối diện, tránh tạo ra cản trở cắn. Trục chân răng Thân răng được đỡ bởi chân răng, chân răng cắm trong xương ổ răng. Hình thể và số lượng chân răng phụ thuộc vào lực tác động lên mặt nhai [11]. Đặc điểm lâm sàng, X-Quang răng cối lớn sau điều trị nội nha 1.
Đặc điểm lâm sàng 1. Hệ số đàn hồi Men: 85 GPa, ngà: 20 Gpa [5], [36]. Những thay đổi của mô cứng sau khi điều trị tủy Quá trình tiến triển bệnh lý và quy trình điều trị tủy làm thay đổi đặc tính vật lý, giảm sức căng, giảm độ cứng của răng. Trong quá trình sửa soạn ống tủy, làm mất cấu trúc răng chỉ ảnh hưởng đến độ cứng của răng 5% [36], mất collagen và mất nước của ngà răng, kết quả làm giảm độ bền vững của răng, tỷ 6 lệ mất nước của mô cứng là 9%, trở lại bình thường phục hồi khả năng dán dính sau 3 tháng, sự mất nước làm giảm 20% tính sinh cơ học của răng [5].
Sức chịu lực của răng giảm khi: - Tạo xoang mặt nhai giảm 20% - Tạo xoang gần xa > 50% - Điều trị tủy giảm 20% Vì vậy sau khi điều trị tủy, sức chịu đựng của răng có thể giảm 60-70% [5]. Đặc điểm X-Quang Răng được trám bít kín khít hệ thống ống tủy theo ba chiều trong không gian với mục đích [4], [36]: - Tránh sự thẩm thấu dịch viêm từ mô chóp răng vào lòng khoang tủy. - Tránh sự tái nhiễm và xâm nhập vi khuẩn vào mô chóp răng. - Tạo môi trường sinh hóa thích hợp cho sự phục hồi các tổn thương có nguồn gốc tủy răng.
Yêu cầu của chất trám bít ống tủy trên phim X-Quang quanh chóp [36]: - Sinh học: không độc với vùng quanh chóp, sát trùng, ngăn cản sự phát triển của vi khuẩn, không kích thích chóp răng. - Vật lý: cản quang, trước mềm, sau cứng. Không thay đổi thể tích, bít kín chóp răng, dính vào thành ống tủy, ngấm vào ống ngà, ống tủy phụ.3: X-Quang quanh chóp răng đã điều trị tủy (Nguồn: Cohen's Pathways of the Pulp, 2011 [36]) 7 1. Tổng quan về composite và sợi polyethylene 1.
Định nghĩa composite Composite là sự kết hợp của tối thiểu hai vật liệu khác nhau về mặt hóa học, không tan vào nhau và có những đặc điểm mới mà mỗi thành phần tự nó không có. Composite là sự pha trộn vật lý của các loại vật liệu được lựa chọn để đạt được các đặc tính mong muốn, sự phối hợp này đã tạo cho composite đạt được các tính lý hóa theo yêu cầu chức năng và thẩm mỹ của nha khoa [4], [29]. Thành phần của composite Trong nha khoa, composite thường có các thành phần sau: - Khung nhựa (polymer hoặc monomer): tạo thành pha liên tục của composite (pha liên tục, pha liền, pha bao bọc). Bis - GMA là một monomer chức năng kép, tạo nên từ phản ứng giữa Bis - phenol A và Glycidylmethacylate.
Tuy nhiên Bis - GMA có nhược điểm là độ quánh cao, hấp thu khí trong quá trình polymer hóa và hấp thu nước sau khi cứng. Hiện nay có hai loại monomer khác nhau được sử dụng là UDMA (Urethane Dimethacrylate) và TEGDMA (Triethylene Glycol Dimethacrylate) làm khung nhựa do chúng có độ quánh thấp [6], [29], [30]. - Chất độn: tạo thành pha đứt đoạn. Quyết định tính chất của composite như độ cứng, độ mịn, tính chịu mài mòn, độ co khi trùng hợp.
Chủ yếu gồm các hạt thủy tinh silicate. Ngoài ra, thành phần độn được thay đổi hoặc thêm các ion khác để tạo nên các đặc tính cần thiết: + Ion Li (Lithium), Al (Aluminum): dễ nghiền nhỏ hạt độn. Hạt độn giúp kiểm soát đặc tính sử dụng, giảm độ co, tăng độ bền và giảm độ mòn của composite [29], [30], [33]. Do hạt độn ảnh hưởng chính lên các đặc tính vật lý của composite nha khoa nên sự phân loại thường dựa trên loại và kích thước hạt độn [6].
8 Ngoài ra còn có chất nối (liên kết các hạt độn với khung nhựa), chất khơi màu, chất tạo màu, chất ổn định composite [6], [30]. Chất nối: có tác dụng kết nối hạt độn vào khung nhựa, làm: + Bền vững đối với sự thủy phân, tránh nước thâm nhập vào. + Dẫn truyền ngẫu lực co giữa khung nhựa và hạt độn. + Phân bố đều hạt độn trong khung nhựa.
Hệ thống khơi mào: quá trình trùng hợp diễn ra khi composite tiếp xúc với ánh sáng xanh ở bước sóng khoảng 470nm. Ánh sáng được hấp thụ bởi chất hoạt hóa thường là camphorquinone cùng với một amin thơm để khơi mào phản ứng trùng hợp [6], [29]. Phân loại composite 1. Theo kích thước hạt độn - Composite hạt độn lớn: chứa 75-80% thành phần vô cơ.
Kích thước trung bình hạt độn 1-10µm, độ cứng cao, chúng thường được sử dụng phục hồi các răng hàm chịu lực nhai, lỗ xoang loại II. Tuy nhiên do kích thước hạt độn lớn nên cấu trúc bề mặt thô, khiến pH dễ bị biến màu dưới tác động bên ngoài. - Composite hạt độn siêu nhỏ: chứa 35-60% thành phần vô cơ. Đường kính trung bình hạt độn từ 0,02-0,04µm.
Đặc tính chủ yếu của chúng là độ cứng thấp, tính chịu lực kém, tính kháng mòn cao và độ đàn hồi tốt. Do vậy, nó luôn là lựa chọn khi phục hồi tổn thương cổ răng. Hơn nữa, vì cấu trúc bề mặt trơn, bóng nên chúng thường được sử dụng cho nhóm răng trước [29], [30]. - Composite lai: chứa 70-80% thành phần vô cơ.
Nó vừa có đặc tính vật lý và cơ học của hạt độn lớn và bề mặt trơn của composite hạt độn siêu nhỏ. Do đó, chúng có độ cứng cao, khả năng chịu lực lớn, đánh bóng tốt [29], [30]. Theo cách trùng hợp - Hóa trùng hợp: thường sản xuất dưới dạng hai bột dẻo, khi trộn với nhau sẽ đông cứng. Trùng hợp không cần đèn nhưng không thể kéo dài thời gian làm việc, dễ có bọt khí do trộn, ít bền vững về màu [6], [29].
- Quang trùng hợp: hiện nay dùng ánh sáng đèn halogen màu xanh bước sóng 400-500nm. Khi chiếu ánh sáng, composite sẽ đông cứng. Ưu điểm là kéo dài thời gian làm việc, thẩm mỹ, tiết kiệm chất trám, mau cứng và giảm độ xốp. - Nhiệt trùng hợp: trùng hợp dưới tác động của nhiệt độ.