Chương 1 - Tổng quan về cửa sông và các nhân tố động lực chính có ảnh hưởng tới phát triển cửa sông ở ven biển DBSH; Chuong 2- Phân tích biến động không gian vùng cửa sông Hồng - sông Thái Bình trên cơ sở tích hợp thông tin viễn thám và thông tin địa lý; Chương 3 - Định hướng khai thác, sử dụng hợp lý lãnh thổ, tài nguyên vùng ven biển cửa sông Hồng - sông Thái Bình. Quá trình thực hiện luận án, NCS đã nhận được sự giúp quí báu của thây hướng dẫn khoa học, các thây trong khoa Địa lý, khoa Địa chất, khoa Khí tượng- Thuỷ văn - Hải dương học thuộc Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội), các đồng nghiệp ở các cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Dia chất, Viện Địa lý, Viện Cơ học, Viện Sinh thái Tài nguyên sinh vật, Phân Viện Hải Dương học Hà Nội, Phân Viện Hải Dương học Hải Phòng (thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Viện Khoa học Thuỷ Lợi (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn), Viện Khí tượng-Thuỷ văn (Bộ Tài nguyên và Môi trường), Khoa Thuỷ văn - Môi trường (ĐH Thuỷ lợi Hà Nội) và các đồng nghiệp ở các Sở Khoa học và Công nghệ thuộc các tỉnh Thái Bình, Nam Định, thành phố Hải Phòng. đã đóng góp những ý kiến rất bổ ích và sự giúp đỡ động viên về tinh than. NCS xin bay tỏ lòng biết ơn tới các thây, bạn bè đồng nghiệp, các cơ quan quản lý khoa học và gia đình đã giành cho NCS sự giúp đỡ quí báu về vật chất và tinh than để hoàn thành bản luận án khoa học này.
Chương ] Tổng quan về của sông vò cóc nhôn tố động lực chính có anh hưởng tới phót triển cửa sông ở ven biển DBSH I.1- Vai trò của cửa sông và lịch sử nghiên cứu 1.1- Khái quát tình hình nghiên cứu cửa sông Đối với các quốc gia ven biển, cửa sông luôn là cửa ngõ quan trọng thông thương với Thế giới bên ngoài. Từ xa xưa, cửa sông đã gắn kết với đời sống của con người và nhiều khu vực cửa sông lớn đã từng là những cái nôi của các nền văn minh cổ đại. Với người Việt Nam, dòng sông Hồng "đỏ nang phù sa" đã gan liền với cuộc sống của nhiều thế hệ từ hàng nghìn năm nay; hay dòng Cửu Long hùng vĩ đã đi vào lịch sử mở mang bờ cõi của cha ông ta, nó đang góp phần phát triển kinh tế - xã hội và nuôi sống hàng chục triệu người dân đất Việt. Do có vị trí quan trọng và vai trò đặc biệt như vậy, nên từ lâu cửa sông là đối tượng nghiên cứu, khai thác phục vụ đời sống con người.
Những nghiên cứu điển hình vào thế kỷ XIX - dau Thế kỷ XX mang tính chất xây dung cơ sở phương pháp luận, có các công trình của Danhinski A. chi dừng lại ở mức độ định hướng lý thuyết cơ bản. Những nghiên cứu về cửa sông trên cơ sở đánh giá điều kiện về địa chất, kiến tạo, thạch học có các công trình điển hình của Zenkovic V. Nghiên cứu các vùng cửa sông trên cơ sở đo đạc các đặc trưng thuỷ văn, có các tác giả là Trekhovic P.
Nghiên cứu, đánh giá các vùng cửa sông thông qua các yếu tố hải văn (sóng gió, thuỷ triều, dòng chảy ven bờ.) có các tác giả chính là Zubov N. những nghiên cứu trên chủ yếu dừng lại ở phân tích điều kiện tự nhiên vùng cửa sông, chưa đề cập sâu cơ chế tác động qua lại giữa các yếu tố động lực sông - biển. Đáng chú ý nhất là nghiên cứu cửa sông về mat lý thuyết của Xamoilov I.V (1952), được khái quát hoá trong sơ đồ về mối tương tác giữa các yếu tố động lực sông - biển trong cơ chế phát triển địa hình cửa sông. Dựa trên ý tưởng về mối tương tác này, các nhà khoa học Xô Viết đã phát triển nghiên cứu cửa sông theo những hướng khác nhau.
Điển hình là Simonov A.I, trong nghiên cứu vùng biển nông trước cửa sông với mô hình hoàn lưu do gió bề mặt, tính toán tốc độ dòng chảy và diễn biến độ mặn ở cửa sông. Một tác giả khác là Mikhailov V.N đã phát triển mô hình thuỷ văn về dòng chảy phân tầng ở vùng biển trước cửa sông do sự a thay đổi đặc tính hoá - lý của các lớp nước pha trộn. Nghiên cứu động lực vùng cửa sông thông qua tương tác gió - dòng chảy được Alsyler V.F và những tác giả khác phát triển trong các mô hình thủy văn, tính toán dòng chảy lớp nước mặt, về vận chuyển của dòng bồi tích ở cửa sông. Trong nghiên cứu về sự hình thành châu thổ (delta) và phát triển các cửa sông, phải đề cập đến các công trình của Zenkovic (1960-1962), Leontrev (1961), Koleman J.
Về quá trình phát triển cửa sông và phân nhánh lòng dan có các nghiên cứu của Makkavev N. Các nghiên cứu vùng ven biển và cửa sông có sử dụng công nghệ viễn thám và Hệ thông tin địa lý (GIS) được phát triển trong những năm cuối thế kỷ XX. Hướng nghiên cứu này gắn liền với thành tựu của công cuộc chinh phục vũ trụ và phát triển các ngành công nghệ mới như Tin học (Informatic) và Địa tin học (Geomatic); có các công trình nghiên cứu điển hình của Regrain R.2- Nghiên cứu cửa sông ở nước ta Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, nên hệ thống thuỷ văn rất phát triển, có tới 2360 con sông lớn nhỏ độ có dài trên 10km [53] và trên đoạn bờ biển dài từ Móng Cái đến Hà Tiên có hàng trăm cửa sông, cửa suối, lạch triều chảy ra biển. Các cửa sông có mật độ khá dày ở hai khu vực đồng bằng châu thổ lớn thuộc hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long; trên hai vùng đồng bằng này trung bình 10+15km đường bờ biển lại có một cửa sông lớn, có nơi khoảng cách giữa hai cửa sông lớn chỉ khoảng 5+7 km như vùng ven biển Hải Phòng và vùng ven biển Vũng Tàu - Gò Công.
Do đó, nghiên cứu cửa sông dưới các chuyên đề khác nhau nhằm phục vụ khai thác hợp lý và chỉnh trị hiệu quả luôn là nhu cầu rất lớn ở nước ta. Nghiên cứu vùng ven biển và các cửa sông ở Bắc Bộ được bắt đầu từ nhiều triều đại phong kiến trước đây, điển hình vào thời nhà Trần (Trần Thái Tông - năm 1248). Ông cha ta đã rất chú trọng tới công việc phòng thủ bảo vệ đất nước và đắp đê ngăn lũ, khai phá mở rộng vùng đồng bang ven biển. Lịch sử mãi mãi ghi nhận chiến công của Tran Hung Đạo đánh thang đạo thuỷ quân từ phương Bắc ở cửa sông Bạch Đằng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ ba (năm 1288) với những bãi cọc nhọn và tài trí lợi dụng dòng chảy thuỷ triều.
dau thế ky XIX, đáng chú ý nhất là công cuộc khai khẩn nổi tiếng do Nguyễn Công Trứ lãnh đạo (năm 1828-1830) ở vùng ven biển cửa sông Hồng và lập ra các huyện Tiên Hải (tỉnh Thái Bình), Kim Son (tinh Ninh Binh); cho đến nay bài học của công cuộc khai khẩn này vẫn còn nguyên giá trị khoa học và thực tiên. Những công trình đắp đê và củng cố các tuyến đê ngăn lũ, đê bao, xây cống ngăn mặn ở ven biển ĐBSH được tiến hành trong suốt các triều đại phong kiến trước đây và vẫn được tiếp tục cho đến ngày nay. Vào đầu thế kỷ XX có những công trình khoa học của các nhà địa lý, thuỷ văn người Pháp như M. Nhưng tài liệu khoa học để lại còn rất ít, chủ yếu là tổng kết các kinh nghiệm và đề xuất các hướng chỉnh trị sông ngòi.
Hiện nay, những nghiên cứu khoa học vùng ven biển - cửa sông ĐBSH và dải ven biển Việt Nam được thực hiện chủ yếu trong khuôn khổ các đề tài khoa học thuộc các chương trình nghiên cứu do Nhà nước đầu tư và phần lớn được tiến hành sau ngày hai miền Bắc-Nam thống nhất (1975). Sau ngày hoà bình lập lại ở Miền Bac (1954) việc nghiên cứu vùng ven biển Bac Bộ được chú ý quan tâm, phục vụ cho sản xuất và chiến đấu. Đáng lưu ý nhất là các đợt điều tra khảo sát phối hợp Việt - Trung ở vịnh Bắc Bộ (1960) và đợt khảo sát hỗn hợp Việt - Xô nhằm mở rộng cảng Hải Phòng (1960 - 1963), nghiên cứu chỉnh trị luồng tau biển khu vực sông Cấm- cửa Nam Triệu (1994-1999). Ngành Khí tượng - Thuỷ văn (KTTV) đã thiết lập và duy trì hoạt động một mạng lưới trạm quan trắc vùng ven biển và các cửa sông, trong đó có một số trạm được xây dựng và hoạt động từ thời Pháp thuộc.
Điển hình là các trạm hải văn ven bờ tai Cửa Ong, Hòn Gai, Hòn Dấu, Van Lý, Hòn Ne, Hòn Ngư; các trạm thuỷ văn cửa sông chủ yếu giữ nhiệm vụ đo mực nước, độ mặn và nhiệt độ nước. Nhìn chung, mạng lưới các trạm KTTV phân bố không đồng đều ở các khu vực ven biển Việt Nam, có những vùng khá thưa như ở ven biển Miền Trung. Ngoài ngành KTTV, còn có một số cơ quan chức năng phục vụ sản xuất đã tiến hành nghiên cứu các cửa sông như ngành Giao thông đường thuỷ, Thuỷ lợi, xây dựng cảng. đã cho tiến hành các đợt khảo sát đo đạc về thuỷ văn, địa hình, địa kỹ thuật theo yêu cầu phục vụ cho việc nạo vét luồng lạch giao thông, lập luận chứng kỹ thuật phục vụ các công trình xây dựng như cầu cảng, đê kè, cống lấy nước, kênh tiêu thoát nước.
Trong một số chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và điều tra cơ bản ở vùng đồng bằng và ven biển, như điều tra tổng hợp af vịnh Bác Bộ (1960-1963), các chương trình nghiên cứu biển (1986-1990, 1991- 1995, 1996-2000), nghiên cứu môi trường vùng ven biển, nghiên cứu qui hoạch khai thác sử dụng các vùng bãi triều va các bãi bồi ven biển. ít nhiều có đề cập đến các vùng cửa sông ở ĐBSH. Trong đó, đáng chú ý là nội dung nghiên cứu động lực vùng ven biển cửa sông (VBCS) thuộc đề tai 48B-02-01 (1986-1990) do PGS.TSKH Nguyễn Văn Cư làm chủ nhiệm, NCS trực tiếp tham gia thực hiện và báo cáo tổng kết đề tài. Ngoài những đề tài, chương trình nghiên cứu do Nhà nước đầu tư nêu trên, còn có các nghiên cứu chuyên sâu dưới dạng các luận án khoa học: những công trình khoa học này tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: thuỷ văn - thuỷ lực, địa mạo - địa chất và nghiên cứu các hệ sinh thái ven biển.