MỞ ĐẦU Vấn đề kéo dài thời gian bảo quản của trái cây và các sản phẩm chế biến giảm thiểu được quan tâm để kịp thời đáp ứng được thời gian vận chuyển, lưu kho, lưu kệ của sản phẩm mà không ảnh hưởng lớn đến chất lượng, giải quyết đầu ra cho người nông dân. Các biện pháp được đề xuất đến từ dạng bao bì và hóa chất bảo quản gây ảnh hưởng đến lợi ích sức khỏe cũng như gánh nặng môi trường. Màng sinh học được nhắc đến như một dạng hỗ trợ có tiềm năng trong bảo quản trái cây theo hướng an toàn và thân thiện môi trường. Song, nhận thấy sự cần thiết trong việc bảo quản không chỉ ở dạng trái cây nguyên quả mà còn cần lưu ý đến các sản phẩm chế biến giảm thiểu, dạng sản phẩm sử dụng tươi trực tiếp sau khi được mua.
Chính vì thế, nhu cầu về chế phẩm an toàn có thể ăn trực tiếp cùng với sản phẩm chế biến là điểm mới cần được đầu tư quan tâm đúng mức. Xu hướng kết hợp cao chiết giàu phenolics đã và đang được đề cập cùng định hướng hoá học xanh. Có khoảng 110-120 triệu tấn vỏ trái cây nhóm citrus bị loại bỏ mỗi năm, điều này gây lãng phí nguồn nguyên liệu. Riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long, sản lượng trái cây và bưởi da xanh tăng mỗi năm cho thấy phụ phẩm vỏ bưởi cần được tận dụng hiệu quả.
Hướng giải quyết được đề xuất tách chiết nhóm phenolics từ vỏ của bưởi da xanh bằng cách sử dụng phương pháp chiết phù hợp kết hợp với màng sinh học từ pectin và ứng dụng bảo quản mít Thái chế biến giảm thiểu. Thành công của đề tài “Nghiên cứu phát triển màng bảo quản từ pectin kết hợp dịch chiết vỏ bưởi da xanh (Citrus maxima burm.)” không chỉ cung cấp phương pháp chiết tách vỏ bưởi phù hợp mà còn xây dựng được một quy trình tạo màng có khả năng bảo quản nông sản. Ngoài ra, cùng với sự phát triển các phương pháp chế tạo màng bảo quản, tính mới trong đề tài hướng đến là khả năng ăn được và hạn chế tối thiểu các ảnh hưởng tiêu cực về cảm quan cho trái cây cũng như các sản phẩm đã chế biến từ nguyên liệu này mà điển hình là ảnh hưởng của màng pectin kết hợp cao chiết vỏ bưởi da xanh lên khả năng bảo quản mít Thái chế biến giảm thiểu. BẢO QUẢN NÔNG SẢN SAU THU HOẠCH 1.
Tác nhân ảnh hưởng đến chất lượng nông sản sau thu hoạch 1. Nhiệt độ Nhiệt độ được xem là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến thời gian bảo quản của rau quả tươi và cần được điều kiển trong suốt quá trình xử lý, tồn trữ, thương mại tại các kênh phân phối. Tốc độ hô hấp của trái cây và rau quả tăng lên 2-3 lần khi nhiệt độ tăng 10°C trong khoảng nhiệt độ 4-30°C [1]. Nhiệt độ không khí thấp giúp làm giảm quá trình sản sinh ethylene và quá trình trao đổi chất, từ đó giúp trái cây lâu chín hơn.
Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các vi sinh vật gây bệnh. Một số loại nấm gây rối loạn cho trái cây không thể sinh trưởng ở nhiệt độ thấp. Ngoài ra, tốc độ phản ứng do enzyme và hô hấp tỷ lệ thuận với nhiệt độ, điều này nhận thấy rõ ràng trong một số loại rau quả có hô hấp đột phát. Tuy nhiên, quá trình làm lạnh không phù hợp cho một vài loại nguyên liệu dễ bị tổn thương lạnh [2].
Thành phần chất khí Thành phần không khí chứa tỷ lệ O2, CO2 và C2H4 tác động trực tiếp đến sự hô hấp và thời gian bảo quản nông sản. Thông thường nồng độ O2 thấp làm giảm tốc độ hô hấp nhưng lại thúc đẩy các quá trình hô hấp yếm khí sinh ra màu và mùi không mong muốn nhưng yếu tố này có thể được ngăn ngừa, nồng độ O2 cao hơn 8% làm tăng quá trình sản sinh ethylene và ngược lại đối với CO2 cao hơn 10% [3]. Mặt khác, tỷ lệ CO2 cao có thể ức chế vi khuẩn hiếu khí nhưng gây bất lợi cho rau củ khi vượt ngưỡng giới hạn, biểu hiện của tổn thương do nồng độ khí CO2 cao như xuất hiện các vết nâu ở rau nhiếp, màu vàng của nấm rơm [4]. Tuy nhiên, trong không khí cần có tối thiểu là 1 đến 3% khí O2 để tránh hiện tượng chuyển từ hô hấp hiếu khí sang kỵ khí của trái cây.
Trong điều kiện kỵ khí, chu trình Krebs sẽ bị thay thế bằng quá trình phân hủy glucose và acid pyruvic bị decarboxylate để tạo thành acetaldehyde, CO2 và ethanol gây ra các vị lạ cho trái cây. Độ ẩm tương đối Độ ẩm tương đối kiểm soát quá trình thoát hơi nước ở trái cây. Sự thoát hơi nước là quá trình nước di chuyển từ tế bào quả ra môi trường không khí xung quanh từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp. Độ ẩm môi trường càng thấp, cường độ hô hấp và tốc độ bay hơi nước của rau quả sẽ càng cao làm giảm khối lượng tự nhiên đáng kể.
Ngoài ra, độ ẩm môi trường tác động lên sự phát triển của sâu bệnh, một số rối loạn sinh lý và sự chín đồng đều của quả. Do đó, để hạn chế các biến đổi không mong muốn, cần lựa chọn và tạo môi trường độ ẩm thích hợp để tránh bị mất nước, giảm trọng lượng và khô của rau quả (85-95%) [2]. Phương pháp bảo quản 1. Phương pháp vật lý a.
Phương pháp bảo quản lạnh Quá trình làm lạnh đòi hỏi sự truyền nhiệt từ nông sản đến môi chất làm mát. Các quá trình truyền nhiệt bao gồm dẫn nhiệt, đối lưu, bức xạ nhiệt và bay hơi. Các quá trình này nhằm giữ nông sản ở nhiệt độ an toàn thấp nhất (phụ thuộc từng loài cây) để giảm cường độ hô hấp của tế bào, giảm độ nhạy với khí ethylen và giảm sự mất nước. Nếu nguồn điện luôn sẵn sàng để cung cấp thì hệ thống làm lạnh cơ khí sẽ cung cấp nguồn lạnh tốt nhất [5].
Các phương pháp làm lạnh thông thường bao gồm: - Làm lạnh kiểu phòng: phương pháp làm mát tương đối rẻ, tốc độ chậm. Sản phẩm được đưa vào trong phòng lạnh, không khí lạnh được lưu thông giữa các thùng, các tải, các khối hàng. Phương pháp này phù hợp nhất đối với các loại hàng ít thối hỏng, như khoai tây, hành tây, táo, khoai lang, và quả có múi, vì các hàng nông sản dễ hư hỏng hơn sẽ giảm giá trị nhanh chóng trước khi được làm mát thích hợp. Nhiệt độ tồn trữ từ 10-13℃ phù hợp cho nông sản ít chịu tổn thương lạnh.
Việc thiết kế và sắp xếp phòng lạnh khá đơn giản và không đòi hỏi nhiều thiết bị đặc biệt. - Làm lạnh bằng không khí cưỡng bức: là đưa không khí đi qua các thùng chứa sản phẩm nhờ quạt hoặc thiết bị đối lưu, tốc độ làm mát sản phẩm rất lớn. - Làm mát bằng chất bay hơi: thông thường chất bay hơi được sử dụng trong phương pháp này là dung dịch nước. Lúc này nước sẽ được thấm ướt trên một 7 vật liệu xơ có khả năng giữ ẩm cao nhưng vẫn đảm bảo độ thoáng khí, không khí được quạt đối lưu đưa qua vật liệu đã được thấm ướt, không khí đi qua nước sẽ được làm mát, nhờ vậy không khí trong kho lưu trữ sẽ giảm đáng kế so với môi trường ngoài.
Phương pháp bảo quản lạnh CAS (Cells Alive System) hoạt động với nguyên lý đi ngược lại lò vi sóng. Bên trong tủ đá lạnh, vật thể đang đông lạnh bị khóa bằng từ trường mạnh. Vùng từ tường này giữ các phân tử nước trong thực phẩm ở quanh trạng thái lỏng ngay cả khi nhiệt độ của chúng giảm xuống. Khi vùng từ trường bị tắt, vật thể bị đông cứng ngay lập tức, không có thời gian để hình thành tinh thể.
Những tinh thể băng này thường làm tổn thương thành tế bào hữu cơ, làm giảm cấu trúc và hương vị của thực phẩm. Sử dụng bao bì - Bao bì thông thường: vật liệu bao gói được sản xuất từ plastic, nhôm, nhựa,… có khả năng ngăn cản một phần các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nông sản. Ngoài ra, bao bì còn đóng góp một phần trong che đậy khuyết điểm của sản phẩm, mang thông tin và kích thích thị hiếu và các vấn đề trong ổn định vị trí sản phẩm - Bao bì hút chân không (VP) (Vacuum Packaging) được hiểu đơn giản là tạo môi trường bao gói với áp suất chân không, tại đây ức chế các quá trình sinh trưởng thông thường. - Bao bì đóng gói điều chỉnh kí quyển MAP (Modified Atmosphere Packaging) là thiết lập không khí bằng cách cân chỉnh tỷ lệ khí O2, CO2, N2 phù hợp với tốc độ hô hấp của nguyên liệu nhưng vẫn đảm bảo độ an toàn bởi các nguyên nhân khác 1.
Phương pháp chiếu xạ Trong đó thực phẩm tiếp xúc trực tiếp với lượng ion hoá sự bức xạ. Nghiên cứu và ứng dụng thực tế trong nhiều thập kỷ đã chỉ ra rằng chiếu xạ có thể làm chậm sự hư hỏng thực phẩm và giảm sự xâm nhập của côn trùng hoặc ô nhiễm bởi các sinh vật khác. Những phương pháp vật lý chủ yếu được sử dụng để kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm tương đối, để đưa nông sản vào khoảng nhiệt độ và độ ẩm mà nông sản sẽ giảm được nhịp hô hấp của tế bào giúp quá trình oxi hóa chậm lại. Một số phương pháp sẽ có tác dụng lên cả vi sinh vật và côn trùng, giúp hạn chế 8 việc phát sinh bệnh hoặc nấm mốc gây thối hỏng.
Trước đây, phơi nắng được xem như một dạng chiếu xạ theo kiểu truyền thống để phá vỡ sinh trưởng của vi sinh vật, tuy nhiên điều này ảnh hưởng khá lớn đến chất lượng thực phẩm bởi khó kiểm soát thông số và biến động của điều kiện khí hậu. Phương pháp hóa học a. Dung dịch Hypoclorit Phương pháp nhúng rửa rau củ qua dung dịch hypoclorit nồng độ 25-70ppm được sử dụng nhằm mục địch kiểm soát vi khuẩn, nấm men và nấm mốc. Muối bicacbonat Sử dụng muối bicacbonat để phòng ngừa thối hỏng sau thu hoạch đã được sử dụng trên ớt tưới, cà chua, carot và các quả có múi.
Giá thành rẻ và an toàn nên được xem là phương pháp dễ thực hiện và chiếm phần lớn lựa chọn. Sulfur Sulfur dioxit: SO2 được sử dụng như chất tẩy uế, khử trùng (với khả năng chịu đựng thuốc tồn dư là 10 ppm) trên nho để kiểm soát nấm Botrytis, Rhizopus và Aspergillus. Cần tính toán lượng sử dụng SO2 phù hợp với quá trình xử lý phần dư.