CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU CỦA ĐỀ TÀI 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống chè. Những đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây chè là kết quả phản ánh tổng hợp giữa các đặc tính của giống với điều kiện ngoại cảnh.
Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của giống trong từng điều kiện sinh thái cụ thể giúp ta đánh giá được khả năng thích ứng của giống, từ đó đề ra các biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý, tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng tốt, cho năng suất cao. Mỗi một giống chè đều yêu cầu chế độ dinh dưỡng, biện pháp kỹ thuật canh tác, thu hái búp phù hợp, cùng với công nghệ chế biến từng loại sản phẩm nâng cao giá trị cây chè. Nghiên cứu về đặc tính sinh trưởng phát triển của cây chè là cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật hợp lý cho mỗi giống chè. Búp chè được hình thành từ các mầm sinh dưỡng, gồm có tôm và các lá non.
Quá trình sinh trưởng của búp chịu sự chi phối của nhiều yếu tố bên ngoài lẫn bên trong, khối lượng búp thay đổi tùy giống. Vườn chè bón nhiều phân, búp sẽ lớn hơn vườn chè thiếu phân, khối lượng búp chè còn phụ thuộc vào một số yếu tố kỹ thuật canh tác khác như đốn, hái và điều kiện địa lý nơi trồng trọt (Đỗ Ngọc Quỹ, 1980) [27]. Bộ rễ thực vật nói chung và cây chè nói riêng là cơ quan dinh dưỡng của cây dưới đất, nó có nhiệm vụ làm giá đỡ cho cây, giữ chặt cây vào đất, hút nước và các chất dinh dưỡng cung cấp cho các hoạt động sống của cây. Trong nhiều trường hợp rễ còn làm chức năng dự trữ, tổng hợp các hợp chất hữu cơ khác nhau cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây (Nguyễn Đình Vinh, 2002) [49].
Sự phát triển của bộ rễ và bộ lá có quan hệ chặt chẽ với nhau và hỗ trợ nhau. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mùa đông khi cành lá luan an 7 ngừng sinh trưởng thì bộ rễ phát triển; mùa xuân khi búp chè sinh trưởng mạnh, thì bộ rễ phát triển chậm lại và tiếp tục như vậy khi bộ rễ phát triển chậm thì lá và búp sẽ sinh trưởng nhanh. Quá trình phát triển bộ rễ có 4 – 5 đỉnh cao trong 1 năm, sinh trưởng lúc nhanh lúc chậm, xen kẽ với sự phát triển của bộ lá, lúc chậm lúc nhanh (Rahman F, Dutta A. Những biện pháp kỹ thuật chủ yếu đối với cây chè 1.
Nhân giống vô tính bằng giâm cành chè Đối với thực vật nói chung, cây chè nói riêng có khả năng tái sinh từ các bộ phận của các cơ quan sinh dưỡng như: lá, chồi, thân, rễ. Nếu đưa các bộ phận của chúng vào môi trường thích hợp nó sẽ phát triển thành rễ, mầm và hình thành cây con. Phương pháp giâm cành chè là sử dụng một bộ phận gồm đoạn thân lá (cơ quan dinh dưỡng) để tái sinh ra cây chè mới (Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Văn Niệm, 1979) [25]. Mật độ trồng chè Mật độ trồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Giống, địa hình, phương thức canh tác thủ công hay cơ giới hóa, mức độ đầu tư phân bón, tưới nước.
Vì vậy, mật độ trồng chè không có mật độ thích hợp nhất, mà chỉ có giới hạn trên, khi mật độ đạt tới giới hạn đó thì sản lượng sẽ không tăng lên nữa. + Xác định mật độ cho từng đối tượng chè nhằm tận dụng tốt không gian, diện tích đất và cho sản lượng cao nhất. Những giống chè biến chủng Trung Quốc lá nhỏ, giống chè lai LDP1, Đại Bạch Trà, Yabukita, Kanayamidori. khi trồng tập trung quy mô công nghiệp, có đốn hàng năm nên trồng ở các mật độ khoảng cách sau: Khoảng cách (m) 1,2 x 0,4 – 0,5, 1,3 x 0,4 – 0,5, 1,4 x 0,4 – 0,5, 1,5 x 0,45 – 0,5 (trồng kép), mật độ 20.
luan an 8 Những giống chè thuộc biến chủng chè Shan, biến chủng Trung Quốc lá to, khoảng cách trồng 1,5 x 0,4 – 5, 1,5 x 0,60 – 0,70 (trồng kép), 1,75 x 0,4 – 0,45, 1,75 x 0,5 – 0,6. Căn cứ vào điều kiện sinh trưởng của từng giống mà xác định mật độ trồng thích hợp. Dạng cây có vòm tán thẳng đứng phù hợp với mật độ trồng dày hơn những giống chè có dạng tán hình mâm xôi. Dựa vào phương thức canh tác, xác định mật độ trồng phù hợp: canh tác thủ công, có thể trồng mật độ cao hơn; khi áp dụng cơ giới hóa nên lựa chọn khoảng cách hàng phù hợp với đặc tính kỹ thuật của máy.
Đốn chè Dựa vào giai đoạn phát dục của cây chè, các vị trí của cành trên cây khác nhau thì có tuổi phát dục khác nhau, cành phía trên cao thường có tuổi phát dục lớn nên nhanh ra hoa kết quả, sinh trưởng dinh dưỡng yếu. Vì vậy cần được đốn để kích thích các mầm bên dưới mọc lên sinh trưởng dinh dưỡng khỏe hơn, chậm ra hoa hơn. Đốn chè là một biện pháp kỹ thuật canh tác đặc thù đối với cây chè. Đốn là cắt bỏ một phần sinh khối (thân, cành, lá) của cây tùy vào mục tiêu tạo tán và điều kiện sinh trưởng sinh dưỡng của cây chè.
Đốn chè kiến thiết cơ bản (KTCB) làm cho cây chè bộ khung tán rộng, cành cơ bản to khỏe, phân cành đều, tăng bề mặt hái chè, tăng số lượng búp, búp mập, làm cơ sở cho tăng năng suất. Tạo cây chè có chiều cao tán hợp lý cho việc thu hái. Phương pháp đốn giai đoạn đầu, Đỗ Văn Ngọc 1991 [17] đã đề xuất như sau: Đốn lần 1 khi nương chè sinh trưởng tốt có 70% cây cao 65 – 70 cm, đường kính gốc 1,0 cm trở lên thì đốn tạo hình lần 1: luan an 9 + Đốn lần 1 (chè 2 tuổi) thân chính cách mặt đất 13 – 15 cm, đốn cành bên cách mặt đất 30 - 35 cm, giữ bộ lá. + Đốn lần 2 (3 tuổi) cách mặt đất 30 – 35 cm, giữ bộ lá.
+ Đốn lần 3 (4 tuổi) cách mặt đất 40 – 45 cm, tán bằng hay mâm xôi, tùy theo đốn máy hoặc đốn tay. Thu hái búp chè Búp chè là sản phẩm cuối cùng của trồng trọt, đồng thời là nguyên liệu khởi đầu cho quá trình chế biến. Hái đúng kỹ thuật làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và tạo cho cây chè sinh trưởng khoẻ, bền vững. Năng suất búp chè có quan hệ chặt với số lá trên cây.
Với đặc điểm của cây chè mỗi một búp sinh ra từ 1 nách lá, do vậy nhiều lá mới có nhiều búp, năng suất cao. Cho nên, việc giữa hái búp và chừa lá có tương quan chặt đến năng suất chè (Đỗ Văn Ngọc, Nguyễn Thị Ngọc Bình, 2009) [20]. Số lượng búp, khối lượng búp là những chỉ tiêu tương quan chặt với năng suất, trong đó số lượng búp là yếu tố biến động lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Khối lượng búp ngoài phụ thuộc vào giống, còn phụ thuộc vào kỹ thuật hái lá, nếu hái đi nhiều lá thì khối lượng búp lớn, sản lượng tăng, song tỷ lệ xơ gỗ cao do đó ảnh hưởng không tốt đến chất lượng chè thành phẩm.
Hái non thì hàm lượng tanin, chất hòa tan (CHT) cao nhưng hàm lượng đường thấp và ngược lại, (Đỗ Văn Ngọc, Trịnh Văn Loan, 2008) [19]. Ngoài ra hái chè liên quan trực tiếp đến sử dụng lao động và khả năng cơ giới hóa. Hái chè non do số lứa hái nhiều nên tốn công và hiệu quả lao động thấp. Hái chè già hơn số công hái ít hơn và hiệu quả lao động cao; cùng với kỹ thuật hái chè khác nhau, việc tạo được mặt tán bằng sẽ là cơ sở tốt cho kỹ thuật hái chè bằng máy để giữ được sản lượng ổn định, lâu dài.
Để chế biến các loại chè khác nhau yêu cầu về chất lượng nguyên liệu búp chè cũng khác nhau. Để chế biến chè xanh, chè đen, người ta thường thu luan an 10 hái búp gồm tôm và 2-3 lá non, chế biến chè oolong thì hái búp tôm 3 lá trưởng thành trên cành chè 5 - 6 lá. Nếu chất lượng nguyên liệu búp chè tốt thì chế biến các loại chè sẽ có chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường tiêu dùng và ngược lại. Đó là cơ sở khoa học cho sự lựa chọn kỹ thuật thu hái hợp lý của các dòng chè được tiến hành nghiên cứu để từ đó có thể nâng cao chất lượng nguyên liệu búp chè phù hợp cho chế biến chè xanh, chè đen chất lượng cao.
Bón phân cho chè Cây chè có khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng rất rộng, nó có thể sống ở nơi đất màu mỡ song cũng có thể sống ở nơi đất cằn cỗi, nghèo kiệt dinh dưỡng mà vẫn cho năng suất nhất định. Tuy nhiên, để có nương chè cho năng suất cao, chất lượng tốt, có nhiệm kỳ kinh tế dài cần phải xây dựng chế độ bón phân hợp lý cho chè, cung cấp đầy đủ và cân đối phân bón đa lượng trên nền phân hữu cơ cung cấp chất vi lượng cho đời sống cây chè. Phân đạm có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định năng suất chè, kích thích cho mầm và búp phát triển tạo ra năng suất. Phân lân (P2O5): có hiệu lực nhất định đối với cây chè.
Tác dụng của lân chủ yếu là kích thích bộ rễ phát triển từ đó nâng cao khả năng hấp thu chất dinh dưỡng, kiến tạo năng suất và nâng cao chất lượng chè thương phẩm. Phân kali (K2O): Nhu cầu kali của cây chè tương đối cao, kali đóng vai trò quan trọng trong hoạt tính enzyme, nước tương đối, protein quang hợp và tổng hợp tinh bột. Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây chè, còn cải thiện chất lượng chè. Do vậy, cần cung cấp đủ kali để đạt năng suất kinh tế tối ưu và chất lượng mong muốn.
Phân hữu cơ: Có vai trò rất quan trọng, nó không những cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính đất như làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, làm tăng luan an 11 sự hoạt động của các hệ vi sinh vật trong đất, làm tăng các thành phần dinh dưỡng N, P, K và các nguyên tố vi lượng khác trong đất (Nguyễn Thị Ngọc Bình, 2007 [2], Nguyễn Văn Chiến, 2008) [3]. Để sản xuất 1000kg chè khô, cây chè đã lấy đi từ đất tổng số 91 kg N, 20,1 kg P2O5 và 40,7 kg K2O, mặt khác cỏ dại không kiểm soát được cũng lấy đi một lượng lớn chất dinh dưỡng (Willson K.