Chương 1 TỔNG QUAN 1. Sơ lược về rau cần nước 1. Nguồn gốc và sự phân bố Rau cần nước có tên khoa học là Oenanthe javanica (Blume) DC., thuộc họ Hoa tán (Apiaceae). Cần nước là loài rau mọc hoang có nguồn gốc nhiệt đới Châu Á (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006).
Rau cần nước được trồng nhiều ở các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, Lào và Việt Nam (Morton và Snyder, 1978). Ở Việt Nam, rau cần nước là loại rau quen thuộc, được trồng từ lâu đời ở các tỉnh phía Bắc; đặc biệt là các tỉnh đồng bằng và Trung du Bắc Bộ như Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006). Cần nước cũng được trồng rộng rãi ở các tỉnh phía Nam như Đồng Nai, Kiên Giang, Bạc Liêu. Đặc điểm thực vật học Cần nước còn được gọi là cần cơm hoặc cần ống, là cây thân thảo đa niên.
Với các đặc điểm thực vật học cơ bản như sau (Hình 1. Rau cần nước luan an 6 Rễ: rau cần nước có rễ thuộc nhóm rễ chùm, mọc ở đốt thân. Rễ còn non có màu xám trắng, rễ già chuyển sang màu sậm hơn (Võ Văn Chi và Trần Hợp, 1999). Thân: rau cần nước có thân xốp, hình tròn và không có lông, chia thành nhiều đốt, thân dài 0,3-1 m (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1996; Phạm Hoàng Hộ, 1999).
Lá: rau cần nước có dạng lá kép hai lần, mỗi đốt có 1 lá, lá mọc so le, chia thùy hình lông chim, phiến lá hình trái xoan, hình thoi hoặc hình mác, gốc lá tròn, đầu nhọn, mép lá có khía răng không đều. Bẹ lá to, rộng, ôm sát vào thân, lá dài 3-8 cm, những lá gần ngọn không có cuống (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1996; Phạm Hoàng Hộ, 1999). Ở mỗi nách lá có thể sinh ra một nhánh để hình thành cây mới, nhưng thường chỉ có những mắt già ở gốc mới sinh nhánh (Đường Hồng Dật, 2003). Cần nước là cây sinh sản vô tính, có thể nhân giống bằng biện pháp giâm hom.
Hoa: hoa phát triển thành cụm gồm những tán kép đối diện với lá, có 5-10 nhánh mang tán con. Mỗi tán con chia thành 10-20 nhánh gần bằng nhau mang những hoa màu trắng có 5 tiểu nhị (Phạm Hoàng Hộ, 1999; Võ Văn Chi, 2012). Quả: quả cần nước có hình trụ thuôn, dài từ 2-3 mm với 5 cạnh lồi (Phạm Hoàng Hộ, 1999; Võ Văn Chi, 2012). Yêu cầu ngoại cảnh đối với sinh trưởng và phát triển của cây rau cần nước Nhiệt độ: Rau cần nước sinh trưởng thuận lợi ở nhiệt độ 15-20oC.
Ở nhiệt độ trên 25oC cây sinh trưởng chậm, cằn cỗi; lá chuyển sang màu huyết dụ (Đường Hồng Dật, 2003). Rau cần nước là loại cây ưa ẩm, mát nên được trồng rộng rãi ở miền Bắc, vùng có khí hậu tương đối lạnh. Thời gian thích hợp để trồng và thu hoạch là vụ Đông Xuân (từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11). Tuy nhiên, rau cần nước vẫn có thể trồng được vào các tháng khác trong năm, nhưng cho năng suất không cao (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1996; Đường Hồng Dật, 2003).
Theo Nguyễn Hoàng Mỹ (2014), rau cần nước trồng tại xã Gia Kiệm huyện Thống Nhất có 2 vụ chính là Vụ Đông Xuân (từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau) và vụ Xuân Hè (từ tháng 2 đến tháng 5), nhiệt độ của vùng trồng rau tại xã Gia Kiệm trung bình trong năm là 25- 26oC, cao nhất là 34,5oC. luan an 7 Ánh sáng: Cần nước là cây ưa mát thường được trồng vào mùa Đông, ngày ngắn và cường độ ánh sáng thấp hơn các mùa khác trong năm (Võ Văn Chi và Trần Hợp, 1999). Cường độ ánh sáng mạnh có thể làm giảm sự sinh trưởng của rau cần nước. Rau cần nước nếu trồng vào những tháng có nhiệt độ cao trong năm, thì cần áp dụng các biện pháp che sáng; thí nghiệm che 25% ánh sáng thì năng suất rau cần nước tăng lên 25,7% (Vũ Thanh Hải, 2008).
Ẩm độ: rau cần nước là loại cây ưa ẩm, mát nên thường được trồng ở ruộng nước, đất lầy (Võ Văn Chi và Trần Hợp, 1999). Thiếu nước cây còi cọc, mô gỗ phát triển làm cho rau trở nên cứng và có vị đắng. Giá trị dinh dưỡng và dược liệu của rau cần nước Rau cần nước có giá trị dinh dưỡng cao, chứa nhiều vitamin và chất khoáng. Phân tích 100 g rau cần nước (gồm thân và lá ăn được) cho thấy: hàm lượng nước trong rau cần nước là chính (93,4 g), có nhiều chất khoáng (kali có hàm lượng cao nhất là 410 mg) và chứa nhiều vitamin (hàm lượng vitamin C cao nhất là 20 mg) (Bảng 1.
Thành phần dinh dưỡng trong 100 g rau cần nước Giá trị dinh dưỡng Khoáng chất (mg) Vitamin Năng lượng 17,0 kcal Na 19 A (Retinol) 160,00 µg Nước 93,4 g K 410 E (α-Tocopherols) 0,70 mg Protein 2,0 g Ca 34 K 160,00 µg Lipid 0,1 g Mg 24 B1 (Thiamin) 0,04 mg Carbonhydrate 3,3 g P 51 B2 (Riboflavin) 0,13 mg F 1,9 B3 (Niacin) 1,20 mg Zn 0,3 B6 (Pyridoxine) 0,11 mg Cu 0,15 B9 (Folate) 110,00 µg Mn 1,24 B5 (Pantothenic acid) 0,42 mg C 20,00 mg (Nguồn: Slism, 2013) Rau cần nước có vị ngọt, hơi cay, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt. Thường dùng để trị cao huyết áp, viêm nhiễm đường tiết niệu, đắp vết sưng do bị ngã, giảm đau, cầm máu và trị nọc rắn (Phạm Hoàng Hộ, 1999; Võ Văn Chi, 2012). Sơ lược tình hình sản xuất rau cần nước tại Việt Nam Rau cần nước được trồng rộng rãi ở miền Bắc vào các tháng mùa Đông và Xuân khi có thời tiết mát và lạnh trong năm (Đường Hồng Dật, 2002). Rau cần nước là cây trồng chủ lực của tỉnh Bắc Giang, được trồng chủ yếu tại xã Hòa Lương, huyện Hiệp Hòa với diện tích 200 ha (Hồng Lương, 2016).
Tại Hà Nội, rau cần nước được trồng với diện tích khoảng 30 ha xã Khai Thái, huyện Phú Xuyên (Quốc Huy, 2014). Điều tra về cơ cấu cây rau tại Đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện bởi Nguyen (2016) cho thấy rau cần nước là một trong 55 loại rau được sản xuất hàng hóa. Ở Bạc Liêu, rau cần nước được trồng ở huyện Phước Long, tập trung nhiều ở xã Vĩnh Thanh. Diện tích trồng rau cần nước hàng năm ở huyện Phước Long khoảng 59 ha.
Diện tích canh tác của các hộ tập trung trong khoảng từ 500 đến 1.000 m2, là diện tích phổ biến đối với các hộ nông dân trồng rau ăn lá, chiếm 42,2% đối với xã Vĩnh Thanh và 15,6% đối với xã Vĩnh Phú Đông. Mỗi vụ rau có thời gian sinh trưởng chủ yếu từ 50 đến 60 ngày sau cấy. Ở Bạc Liêu tất cả số hộ điều tra đều không phơi ải đất trước khi trồng. Bờ ruộng chỉ là bờ nhỏ được đắp đất làm đường đi như ruộng lúa.
Tại Bạc Liêu sau khi trồng được khoảng 20 ngày, nông dân tưới nước cho rau phần lớn từ giếng khoan và chỉ cho mực nước ngập cây rau từ 3 đến 5cm và duy trì mực nước cho đến khi thu hoạch. Với 1 vụ trồng rau cần nước tương đối khá ngắn chỉ khoảng 2 tháng, năng suất đạt từ khoảng 3.000 m2) và việc đầu tư trồng rau cần nước không tốn kém quá nhiều chi phí nên đem lại hiệu quả kinh tế tương đối cao (khoảng từ 28. Ở Đồng Nai, đa số nông dân không xử lý đất trước khi trồng rau để tận dụng tối đa về thời vụ, giá cả thị trường chiếm 85% tổng số hộ điều tra. Tại Đồng Nai, có 15% số hộ thực hiện phơi đất từ 2 đến 5 ngày trước khi trồng.
Một điểm khác biệt trong việc thiết kế ruộng trồng rau cần nước ở Đồng Nai so với các cây rau khác là bờ ruộng rau cần nước. Bờ ruộng thường được làm bê tông có bề rộng là 60 cm để dùng bờ ruộng đựng rau cần nước sau khi thu hoạch và đã được rửa sơ qua tại ruộng. luan an 9 Quá trình điều tra cho thấy nông dân trên địa bàn xã Gia Kiệm, tỉnh Đồng Nai sử dụng nguồn nước là nước giếng khoan. 100% hộ sử dụng nguồn nước tưới nước dâng trào cao hơn bề mặt ruộng để tưới rau và phương pháp tưới chính là tưới ngập.
Nước được sử dụng tưới cho rau đều tốt, đảm bảo cho sản xuất rau. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi đảm bảo cho việc sản xuất rau ở các vùng chuyên canh rau của xã. Đồng thời cũng là điều kiện cho việc triển khai các mô hình trồng rau an toàn của xã Gia Kiệm trong tương lai. Sau khi rau trồng được khoảng 20 ngày, nước được đưa vào chừa lại chiều cao cây rau cần khoảng từ 10 đến 15 cm không để cho nước ngập cây rau.
Nước đưa vào theo hệ thống hai chiều (có nghĩa là một đầu ruộng nước được đưa vào và cuối ruộng nước được đưa ra), lượng nước được đưa vào hàng ngày cả ngày lẫn đêm. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa cách trồng của nông dân 2 tỉnh. Điều này dẫn đến chất lượng của 2 loại rau cũng khác nhau. Ở Đồng Nai do cây rau ngập trong nước làm cho thân rau trắng, mềm và dài (60-80cm); trong khi đó tại Bạc Liêu chỉ để mực nước từ 3 đến 5 cm nên thân rau xanh và ngắn (30-50cm).
Rau cần nước chỉ thu hoạch một lần duy nhất trên ruộng, không kéo dài thời gian thu hoạch sẽ ảnh hưởng đến phẩm chất của rau. Rau thu hoạch được để ngay tại ruộng sau đó mới thu gom rau vào hồ nước rửa lần cuối rồi chuyển lên xe máy vận chuyển cho thương lái. 100% số hộ không sử dụng hóa chất để xử lý rau. Nước giếng để rửa rau lần cuối.
Kết quả điều tra cho thấy có 100% số nông hộ trồng rau tại 2 tỉnh đều tiêu thụ sản phẩm bằng phương thức bán cho thương lái tiêu thụ tại chỗ, trong và ngoài tỉnh (Nguyễn Hoàng Mỹ, 2014; Phạm Thị Minh Tâm và ctv, 2015b). Nhân giống vô tính bằng cành (hom) giâm cho cây trồng và cây rau cần nước 1. Vai trò của nhân giống vô tính bằng cành (hom) giâm Phương pháp giâm, chiết cành dựa trên khả năng hình thành rễ bất định của cành giâm hoặc chiết khi được cắt rời khỏi cây mẹ. Phương pháp này thường được áp dụng cho cả hai nhóm cây thân gỗ và thân thảo như cây vải, nhãn, cam, chanh, khoai tây, mía, dứa, hoa cúc, cẩm chướng, rau muống, rau cần nước.