Chương 1.1 Giới thiệu các công trình nghiên cứu liên quan 1.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước Ép phun đại diện cho một trong những quy trình quan trọng nhất trong sản xuất hàng loạt các chi tiết bằng nhựa được chế tạo với hình học phức tạp. Chất lượng của các sản phẩm ép phun phụ thuộc vào đặc tính vật liệu, thiết kế khuôn và các điều kiện xử lý công nghệ [1,2]. Những khuyết tật trong việc ổn định kích thước của các chi tiết dẫn đến co rút và cong vênh. Để giảm thiểu các khuyết tật như vậy trong ép phun sản phẩm nhựa, thiết kế thí nghiệm phương pháp Taguchi được áp dụng.
Trong thiết kế thử nghiệm, có nhiều yếu tố biến đổi làm ảnh hưởng đến các đặc tính chức năng của sản phẩm. Các giá trị tham số thiết kế giúp giảm thiểu ảnh hưởng của các yếu tố nhiễu đến chất lượng sản phẩm. Để tìm các mức tối ưu, thiết kế giai thừa phân đoạn sử dụng mảng trực giao được sử dụng. Theo cách này, một tập hợp các điều kiện xử lý tối ưu có thể thu được từ rất ít thí nghiệm [3,4].
Có một số nhà nghiên cứu đã nghiên cứu ảnh hưởng của các tham số quá trình ép phun lên sự co rút của vật đúc [5-8]. Do nhiều tham số xử lý ảnh hưởng đến độ co rút, tối ưu hóa tham số và thiết kế thí nghiệm là cần thiết để tạo ra các sản phẩm chất lượng cao. Một số nhà nghiên cứu đã tiến hành tối ưu hóa sự co rút trong khuôn ép nhựa. Trong sản xuất linh kiện nhựa vỏ mỏng, Oktem et al.
[9] đã sử dụng phương pháp Taguchi để giảm các vấn đề về cong vênh có liên quan đến sự thay đổi của các tham số xử lý phụ thuộc vào độ co rút. Họ đã cải thiện độ cong vênh và độ co rút bằng cách xác định thời gian điền đầy tối ưu, áp suất điền đầy, thời gian phun và thời gian làm mát. Áp suất điền đầy và thời gian điền đầy khuôn được cho là các thông số quan trọng nhất. Vatainen và cộng sự [10] đã nghiên cứu ảnh hưởng của các tham số ép phun đến chất lượng hình ảnh của các vật đúc bằng phương pháp Taguchi.
Họ tập trung vào sự co rút với ba đặc tính chất lượng hơn: trọng lượng, đường hàn và vết lặng. Họ đã có thể tối ưu hóa nhiều đặc tính chất lượng với rất ít thí nghiệm, nên có thể tiết kiệm chi phí. Et và cộng sự [11] đã nghiên cứu ảnh hưởng của các tham số xử lý đến độ co rút bằng cách sử dụng kết hợp kỹ thuật CAE và Taguchi. Chang và Faison [12] đã nghiên cứu giảm co rút và tối ưu hóa các chi tiết làm từ PS, HDPE và ABS bằng cách sử dụng phương pháp Taguchi và ANOVA.
Họ tuyên bố rằng nhiệt độ khuôn và nhiệt độ nóng chảy cùng với áp suất bão hòa và thời gian bão hòa là những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến độ co rút của ba vật liệu được nghiên cứu. Liao et al [13] đã xác định các điều kiện xử lý tối ưu cho ép phun sản phẩm có 1 TS. Lê Minh Tài, PGS.TS Phạm Sơn Minh, TS. Trần Minh Thế Uyên Luan van T2020-58TĐ thành mỏng, cho vỏ điện thoại di động, bằng phương pháp Taguchi.
Dựa trên kết quả phân tích các biến và kiểm tra sai số chuẩn, áp suất điền đầy được tìm thấy là thông số quan trọng nhất ảnh hưởng đến độ co rút và cong vênh. Nhìn chung, độ co rút của vật liệu nhựa chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như điều kiện chế tạo, vật liệu thành phần và tỷ lệ sợi như đã được phân tích ở trên.2 Các công trình nghiên cứu trong nước Hiện nay, vật liệu nhựa đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực tại Việt Nam với nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng. Cụ thể là: Tác giả Nguyễn Nhật Trinh đã nghiên cứu ảnh hưởng của thông số chế tạo đến độ bền vật liệu composite gia cường vải polyeste trên cơ sở nhựa phenolfomandehit được thực hiện vào năm 2009 tại ĐH. Bách Khoa Hà Nội [18].
Vật liệu cốt gia cường là vải kỹ thuật, kết cấu kiểu dệt thoi vân điểm do Công ty Hualon Việt Nam sản xuất, nguyên liệu 100% xơ polyeste philamăng (PET). Nhựa nền là phenolfomandehit (PF) dạng novolac do trung tâm ứng dụng khoa học kỹ thuật quân sự sản xuất. Kết quả thực nghiệm cho thấy các thông số nhiệt độ, lực ép và tỷ lệ thành phần ảnh hưởng đến độ bền cơ học vật liệu composite gia cường vải polyeste trên cơ sở nhựa PF. Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy sử dụng phần mềm toán học Design-Experts có thể xác định nhanh và chính xác các thông số công nghệ chế tạo tối ưu nhằm đạt được độ bền vật liệu composite lớn nhất.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Hoàng Văn Thạnh và Trần Đình Sơn đã trình bày về xây dựng lưu đồ thuật toán cho việc thiết kế, chế tạo một sản phẩm quang học. Trong đó, tính toán, thiết kế và mô phỏng dòng nhựa chảy trong khuôn bằng các phần mềm CAD/CAM/CAE: Pro/E, TracePro, Rhinoceros và Moldflow đã được áp dụng. Trên cơ sở đó, thiết kế và chế tạo hoàn chỉnh một bộ khuôn ứng dụng cho việc khảo sát thực nghiệm các thông số ép phun ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm quang học. Từ kết quả mô phỏng và thực nghiệm, đã khảo sát được một số thông số ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm như nhiệt độ khuôn, nhiệt độ vật liệu, áp suất phun, áp suất ép và thời gian ép.
Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng được trong sản xuất các sản phẩm quang học chiếu sáng có hiệu quả tiết kiệm điện năng cao [19]. Bên cạnh đó, nghiên cứu của nhóm tác giả Đoàn Thị Minh Trinh, Vũ Hồng Thủy và Lê Quang Bình trình bày kết quả áp dụng phương pháp thiết kế CAD/CAE tối ưu đường kính kênh dẫn nhựa (runners) cho khuôn ép 16 sản phẩm nắp bút với cấu hình kênh dẫn bố trí không cân bằng tự nhiên theo đặt hàng nghiên cứu của Công ty TNHH SX-TM Thiên Long. Kết quả nghiên cứu đảm bảo chất lượng đồng đều cho 2 TS. Lê Minh Tài, PGS.TS Phạm Sơn Minh, TS.
Trần Minh Thế Uyên Luan van T2020-58TĐ tất cả sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên liệu nhựa, giảm đáng kể thời gian chu kỳ và áp lực ép phun [20]. Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về vật liệu polymer và composite do PGS. Đỗ Thành Trung, PGS. Phạm Sơn Minh cùng các học viên cao học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM thực hiện trong những năm vừa qua, chẳng hạn như: Nghiên cứu và phát triển nhíp giảm xóc bằng vật liệu composite, Nghiên cứu và phát triển đòn treo trên bằng vật liệu composite, Nghiên cứu cường độ ứng suất trên dầm composite nhiều lớp với cốt sợi không liên tục, Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ khuôn ép phun đến chất lượng sản phẩm composite nhựa nhiệt dẻo,.
Tuy có nhiều công trình nghiên cứu về vật liệu nhựa cũng như công nghệ ép phun. Nhưng các nghiên cứu về tối ưu hoá thiết kế các thông số công nghệ, cho các vật liệu composite PP, PA6 và ABS với sợi thủy tinh chưa được quan tâm nhiều. Trong khi các vật liệu này lại có những giá trị ứng dụng cao trong kỹ thuật và đời sống. Nên nhóm quyết định lựa chọn đề tài giảm co ngót trong công nghệ ép phun sản phẩm nhựa bằng phương pháp tối ưu hoá Taguchi, ANOVA và mạng nơ ron.2 Tính cấp thiết của đề tài Công nghệ ép phun là quá trình ép phun nhựa nóng chảy điền đầy lòng khuôn.
Một khi nhựa được làm nguội và đông cứng lại trong lòng khuôn thì khuôn được mở ra và sản phẩm được đẩy ra khỏi khuôn nhờ hệ thống đẩy, trong quá trình này không có bất cứ một phản ứng hóa học nào. Bằng cách quan sát thông thường nhất chúng ta có thể thấy có rất nhiều sản phẩm nhựa xung quanh chúng ta. Từ các sản phẩm đơn giản là dụng cụ học tập như: thước, bút…đồ chơi cho đến các sản phẩm phức tạp như : bàn ghế, máy tính…đều được làm bằng nhựa. Các sản phẩm này đều có màu sắc và hình dáng đa dạng chúng đã làm cho cuộc sống của chúng ta thêm đẹp và tiện nghi hơn.
Điều này đồng nghĩa với việc sản phẩm nhựa mà phần lớn tạo ra bằng công nghệ ép phun đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta. Với các tính chất như: độ dẻo dai, có thể tái chế, không có phản ứng hóa học nào với không khí ở điều kiện bình thường vật liệu nhựa đã đang thay thế dần các loại vật liệu khác như: sắt, nhôm, gang…. đang ngày càng cạn kiệt trong tự nhiên. Công nghệ ép phun đã trở thành quá trình công nghệ phổ biến và xu thế phát triển tất yếu trong lĩnh vực nhựa.
Vì vậy để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm ép phun, chúng ta sẽ đi tìm các các lỗi thường hay xảy ra khi ép nhựa. Độ co rút nhựa (độ co ngót nhựa) hay tỷ lệ co rút nhựa (Shrinkage) là yếu tố quan trọng hàng đầu trong thiết kế khuôn nhựa. Đó là hiện tượng thể tích vật lý của nhựa thay đổi khi chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn. Đối với 3 TS.
Lê Minh Tài, PGS.TS Phạm Sơn Minh, TS. Trần Minh Thế Uyên Luan van T2020-58TĐ khuôn ép nhựa. Độ co rút của nhựa trong khuôn ép là quá trình thay đổi thể tích của sản phẩm trước và sau quá trình làm mát. Gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng đầu ra của sản phẩm.
Quá trình cài đặt các thông số công nghệ, không phải lúc nào cũng chính xác như mong muốn, hay quá trình thu nhận các thông tin sau khi ép phun cũng bị ảnh hưởng của các yếu tố nhiễu, làm những thông tin có được giảm so với giá trị thực ở một mức độ tin cậy nhất định. Phương pháp phân tích thực nghiệm Taguchi được ứng dụng ngày càng phổ biến và cho phép đánh giá mức độ ảnh hưởng đó. Ngày nay, ứng dụng phát triển khoa học máy tính, con người đã tiếp cận và mô phỏng quá trình thu nhận và xử lý thông tin trong bộ não của mình và tìm hiểu các cơ chế tối ưu trong tự nhiên. Khoa học trí tuệ nhân tạo là một ngành nghiên cứu để tiếp cận khả năng tư duy và học của bộ não.
Ứng dụng khoa học trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tối ưu là xu hướng và tất yếu trong tương lai.