Mở đầu - Chương 2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước - Chương 3. Tổng quan địa bàn nghiên cứu - Chương 4. Phương pháp nghiên cứu - Chương 5.
Kết quả và thảo luận - Chương 6. Kết luận và kiến nghị 123doc 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 2. Các mô hình nuôi thủy sản thâm canh Ngành thuỷ sản là một phần của ngành nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nông - lâm - ngư nghiệp. Ngành thuỷ sản được coi là ngành sản xuất dựa trên những khả năng tiềm tàng về sinh vật trong môi trường nước để sản xuất ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu không ngừng tăng lên của con người.
Hoạt động thuỷ sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển, bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thuỷ sản, dịch vụ trong hoạt động thuỷ sản, điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản. Theo FAO (2008) Nuôi trồng thủy sản thâm canh là nuôi các thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt và lợ/mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật vào quy trình nuôi nhằm nâng cao nãng suất, thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể. Nuôi thủy sản thâm canh là hình thức nuôi có năng suất dưới 200 tấn/ha/năm; kiểm soát tốt các điều kiện nuôi; chi phí đầu tư ban đầu, kỹ thuật áp dụng và hiệu quả sản xuất đều cao, và có xu hướng tiến tới kiểm soát hiệu quả tất cả các điều kiện nuôi (khí hậu và chất lượng nước) và các hệ thống nuôi có tính nhân tạo (FAO, 2008). Nhằm hướng đến phát triển bền vững nghề nuôi tôm tại huyện Kiên Lương, các mô hình nuôi cải tiến không ngừng đảm bảo an toàn sinh học, an toàn tiêu dùng và thân thiện môi trường được ứng dụng rộng rải giúp quản lý nghề nuôi tốt hơn như: thực hành nuôi tốt (GAP - good aquaculture practice), thực hành quản lý tốt (BMP - best management practice), nuôi an toàn sinh học (bio - security shrimp culture), nuôi có trách nhiệm, nuôi kết hợp, nuôi sinh thái và mô hình nuôi mới nhất là nuôi tôm lót bạc đáy 2 giai đoạn đã áp dụng thành công ở nhiều nước như Indonesia, Thái Lan.
Trước tình hình dịch bệnh diễn biến như hiện nay thì vấn đề cấp thiết đặt ra lúc này là lựa chọn phương thức nuôi và đối tượng nào để đảm bảo nghề nuôi phát triển bền vững và thân thiện với môi trường. Trong nghiên cứu này tập trung vào mô hình nuôi tôm thâm canh theo kiểu truyền thống và mô hình nuôi tôm thâm canh lót bạc đáy hai giai đoạn. Đặc điểm của nuôi tôm thâm canh Ngành sản xuất vật chất độc lập Đối tượng sản xuất của ngành thuỷ sản là con tôm sống dưới nước. Nó khác hẳn với đối tượng sản xuất của ngành nông nghiệp là những cây, những con mà con người có thể chủ động trong việc nắm bắt được số lượng.
Chính vì vậy mà đã gây khó khăn trong việc xác định trữ lượng con tôm hàng năm do bị ảnh hưởng nhiều bởi thời tiết, thiên tai, dịch bệnh. Ngành nuôi tôm thâm canh có lực lượng chuyên môn hoá thể hiện đó là một nghề nhất định. Bởi vì do đối tượng sản xuất của ngành thuỷ sản quyết định đến tính chuyên môn hoá của lực lượng sản xuất. Trong hoạt động nuôi tôm thâm canh phải cần những lao động có đủ trình độ kỹ thuật để chăm sóc, nuôi dưỡng vật nuôi, kiểm soát dịch bệnh.
Ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp và tính liên ngành cao Ngành nuôi tôm thâm canh mang tính chất sản xuất hỗn hợp bởi cũng giống như ngành sản xuất nông nghiệp, đối tượng của ngành là các sinh vật sống trong môi trường nước có khả năng tái sinh tự nhiên. Chúng có chu kỳ tăng trưởng, chu kỳ sinh sản có môi trường sống riêng theo từng loài, đồng thời cũng có những hoạt động di trú theo mùa, theo thời tiết rất đa dạng và phong phú. Chính vì vậy đi đôi với việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên thì cần phải nghiên cứu và thực hiện bảo vệ, duy trì tái tạo nguồn lợi. Con tôm ngoài phục vụ nhu cầu tiêu thụ trực tiếp của dân cư, thì một phần lớn được cung cấp cho các nhà máy chế biến làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Có một đặc điểm dễ dàng nhận thấy là thông qua hoạt động chế biến thì giá trị của các sản phẩm thuỷ sản được nâng tầm giá trị. Việc chế biến các sản phẩm từ con tôm dùng công nghệ bao gói chủ yếu nhằm mục đích xuất khẩu sang thị trường thế giới. Để các sản phẩm này thực sự làm hài lòng người tiêu dùng ngoại quốc thì chất lượng sản phẩm phải được đặt lên hàng đầu. Do đó, vấn đề đặt ra là phải đảm bảo chất lượng con tôm từ khâu nuôi trồng, chúng ta chỉ có đầu ra khi có sản phẩm sạch.
Các khái niệm hiệu quả sản xuất trong ngành thủy sản 2.1 Hiệu quả kinh tế Được đo bằng sự so sánh kết quả sản xuất kinh doanh và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh tế là biểu hiện tính hiện hữu về mặt kinh tế của việc sử dụng các loại vật tư, lao động, tiền vốn trong sản xuất kinh doanh. Nó chỉ ra các mối quan hệ giữa các lợi ích kinh tế thu được với các chi phí bằng tiền trong mỗi chu kì kinh doanh. Lợi ích kinh tế càng lớn thì kết quả kinh doanh càng cao và ngược lại.
Hay nói cách khác, tiêu chí hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị; có nghĩa là khi sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại sẽ không tăng hiệu quả.2 Hiệu quả kỹ thuật Hiệu quả kỹ thuật đòi hỏi nhà sản xuất tạo ra một số lượng nhất định xuất phát từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất. Thực ra, hiệu quả kỹ thuật được xem chỉ là một thành phần của hiệu quả kinh tế. Bởi vì, để đạt được hiệu quả kinh tế thì trước hết họ phải có hiệu quả kỹ thuật. Cụ thể trong trường hợp tối đa hóa lợi nhuận đòi hỏi nhà sản xuất phải sản xuất mức sản lượng tối đa tương ứng với nguồn lực đầu vào nhất định hay nói cách khác hiệu quả kỹ thuật dùng để chỉ sự kết hợp tối ưu các nguồn lực đầu vào để tạo ra mức sản lượng nhất định.3 Rủi ro Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm có thể phát sinh từ một vài tiến trình hay từ một vài sự kiện rủi ro trong nền kinh tế là những rủi ro mà hậu quả của nó có thể có lợi, nhưng cũng có thể sẽ mang đến sự tổn thất (sự thay đổi về thị hiếu khách hàng có thể phù hợp với sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh hay không, sự thay đổi về công nghệ kĩ thuật có phù hợp với khả năng kinh tế của doanh nghiệp hay không, sự thay đổi đó có quá nhanh hay không? .4 Lợi nhuận Là phần thu về được sau khi đã trừ chi phí liên quan đến đầu tư đó.
Là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí bỏ ra. Các yếu tố ngoại cảnh tác động thuận lợi thì khả năng thu lợi nhuận càng cao. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc Ngành nuôi tôm đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm và nguyên liệu chế biến phục vụ cho xuất khẩu sang các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và các nước Châu Âu. Nghiên cứu về quy trình sản xuất cũng như phân tích hiệu quả kinh tế trong nuôi tôm thâm canh đã trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều tác giả như: Huỳnh Thị Thanh Chi (2015); Đoàn Trần Đạt (2009); Ngô Thế Trường (2009); Phan Thị Ngọc Thơ (2009); Nguyễn Văn Kiều (2013); Trần Ái Kết và Nguyễn Thành Tích (2014).
Huỳnh Thị Thanh Chi (2015) đã phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của ba mô hình sản xuất lúa đơn, tôm đơn và xen canh lúa tôm ở Giá Rai, Bạc Liêu. Kết quả nghiên cứu xác định được mô hình xen canh lúa tôm mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn hai mô hình canh tác còn lại, với tỷ suất doanh thu và lợi nhuận lần lượt là 4.02, doanh thu cả năm là 143.17 triệu đồng/ha, mang lại lợi nhuận là 107. Vụ lúa tôm tuy có năng suất và doanh thu tôm thấp hơn tôm vụ 3 (vụ tương ứng trong tôm đơn) nhưng nhờ vụ lúa nên năng suất tôm vụ 1, vụ 2 tăng, giúp tôm phát triển, ít bệnh, giảm chi phí so với hai vụ tôm tương ứng trong mô hình tôm đơn. Tuy nhiên, đề tài chỉ phân tích vụ lúa Thu Đông, chưa phân tích vụ lúa Đông Xuân và vụ lúa Hè Thu.
Đoàn Trần Đạt (2009) so sánh một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của các mô hình nuôi thâm canh tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Bến Tre. Đề tài đã phân tích cho kết quả diện tích đất sử dụng bình quân cho mô hình nuôi tôm sú thâm canh là 1,58 ha/hộ và tôm thẻ thâm canh là 1,5 ha/hộ. Diện tích mặt nước của mô hình tôm sú thâm canh là 0,9 ha/hộ và tôm thẻ thâm canh là 0,92 ha/hộ. Diện tích mặt nước trung bình ao nuôi ở mô hình nuôi tôm sú TC là 0,33 ha và tôm thẻ TC là 0,36 ha.
Ở cả hai mô hình tôm sú TC và tôm thẻ TC điều có sử dụng ao lắng để xử lý nước với diện tích ao lắng chiếm 28,53% đối với mô hình nuôi tôm sú TC và 30,99% tổng diện tích mặt nước ao nuôi tôm thẻ TC. Năng suất bình quân vụ 1 là 4,48 tấn/ha tôm sú TC và 6,03 tấn/ha tôm chân trắng TC; ở vụ 2 là 4,11 tấn/ha tôm sú và 4,46 tấn/ha đối với tôm thẻ TC. Tổng chi phí hằng năm nuôi tôm ở mô hình tôm sú TC là 337,9 triệu đồng/ha/năm, ở mô hình tôm thẻ TC là 323,7 triệu đồng/ha/năm. Trong đó tổng chi phí cố định của mô hình tôm sú TC là 24,37 triệu đồng /ha/năm và tôm thẻ TC là 25,07 123doc 9 triệu đồng /ha/năm.
Chi phí biến đổi mô hình tôm sú TC là 313,6 triệu đồng /ha/năm và tôm thẻ TC là 298,7 triệu đồng /ha/năm. Mức lãi trung bình của mô hình TC là 78,9 triệu đồng /ha/năm và mô hình tôm thẻ TC là 53 triệu đồng /ha/năm. Đề tài chưa đề cặp sâu về mật độ nuôi và các yếu tố tác động đến môi trường. Ngô Thế Trường (2009) so sánh một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của các mô hình nuôi thâm canh tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Kiên giang.