MỞ ĐẦU 1. Cây mít (Artocarpus heterophyllus) thuộc họ dâu tằm (Moraceae), có nguồn gốc ở Nam và Đông Nam Á là một trong những cây ăn quả phổ biến ở vùng nhiệt đới châu Á. Thành phần dinh dưỡng của mít có sự khác biệt đáng kể giữa các giống và các vùng. Thấy được nhu yếu của thị trường Việt Nam hiện nay thị hiếu người tiêu dùng ưa thích các mặt hàng đặc sản trong đó có chủ yếu là các loại hoa quả vùng miền trong đó có cây mít có kinh tế cao cho người nông dân có thể chế biến được nhiều loại thành phẩm đa dạng nên em muốn tìm hiếu và phát triển cây mít theo hướng tập trung các loại mít đặc sản có trong vùng.
Quá trình chọn lựa, nghiên cứu thu thập cây để nhân giống các loại mít cũng rất quan trọng. Cây mít được trồng nhiều vì vốn đầu tư thấp và là giống cây dễ trồng, ít công chăm sóc, không cần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thời gian sinh trưởng ngắn, cho thu hoạch nhanh, năng suất cao, đậu trái quanh năm, khả năng chịu hạn tốt. Để cây mít thực sự mang lại hiệu quả cao, cần phải đề cao việc chọn giống cây mít cho đến nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc. Cần chọn loại mít phù hợp với điều kiện khí hậu, môi trường nơi bạn định trồng, cây giống được chọn phải khỏe mạnh, không bị sâu bệnh.
Có nhiều phương pháp nhân giống dành cho mít để người trồng lựa chọn như: Nhân giống bằng hạt, giâm cành, ghép cây, chiết cành hay là phương pháp nuôi cấy mô mít Trước kia thường trồng mít theo phương pháp truyền thống là nhân giống bằng hạt vì phương pháp này rất dễ làm. Nhưng hiện nay phương pháp nhân giống bằng hạt không được áp dụng đối với những người trồng mít để kinh 1 doanh vì nó chậm ra quả và dễ bị phân li. Hiện nay, phương pháp nhân giống được ưa chuộng nhất là trồng bằng cây chiết, cây ghép. Việc thu thập và nghiên cứu các phương pháp ghép, cách phân lọai các giống cây mít đã thu nhận được đạt hiệu quả sinh trưởng phát triển tốt nhất là yêu cầu rất được người nông dân cũng như các nhà vườn các nông trại quan tâm trong tình hình hiện tại.
Xuất phát từ thực tế đó vào được sự cho phép của Bộ môn Canh tác học thuộc Khoa Nông học, Học viện nông nghiệp Việt Nam. Dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Mai Thơm em thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thu thập nguồn gen cây mít (Artocarpus heterophyllus) đặc sản huyện Quỳ Hợp và nhân giống tại Gia Lâm, Hà Nội” 1. Mục đích và yêu cầu của đề tài.
Thu thập giống mít dai và mít mật địa phương có chất lượng cao tại huyện Quỳ Hợp – tỉnh Nghệ An về ghép nhân giống tại Gia Lâm – Hà Nội. Đồng thời nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón qua lá đến sự sinh trưởng và phát triển của cây.Yêu cầu Nhân giống giống đã thu thập bằng các phương pháp ghép phổ biến hiện nay. - Theo dõi cây sau khi ghép, ghi lại các chỉ tiêu trong quá trình chăm sóc. Đánh giá tỉ lệ thành công đạt hiệu quả của các phương pháp ghép mít.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón qua lá đến sự sinh trưởng và phát triển của cây mít sau khi ghép. 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về cây mít. - Tên thường gọi: Cây Mít - Tên khoa học: Artocarpus heterophyllus - Tên đồng nghĩa: Artocarpus brasiliensis Ortega A.
nanca Noronha (nom inval. Bộ (ordo) Hoa hồng (Rosales) Họ (familia) Dâu tằm (Moraceae) Chi (genus) Mít (Artocarpus) Loài (species) Artocarpus heterophyllus. - Nguồn gốc và phân bố: Chi Mít hay chi Chay (Artocarpus) là một chi của khoảng 60 loài cây thân gỗ sinh sống trong khu vực Đông Nam Á và các đảo trên Thái Bình Dương, thuộc về họ Dâu tằm (Moraceae). Chi này có quan hệ gần và khó phân biệt với chi Ficus chứa các loài đa, sanh, si, sung, đề.
Tên gọi chung phổ biến của các loài là mít, chay hay xa kê. Một vài loài trong chi Mít có quả ăn được và được trồng khá phổ biến, như Mít (Artocarpus heterophyllus), Sa kê (Artocarpus altilis), Mít tố nữ (Artocarpus integer), và Marang (Artocarpus odoratissimus). 3 Nghiên cứu phát sinh loài gần đây, dựa trên kiểu sắp xếp lá, các đặc trưng giải phẫu lá và lá kèm, chỉ ra sự tồn tại của ít nhất là 2 phân chi trong chi Artocarpus: Phân chi Artocarpus: Bao hoa của quả là hợp sinh một phần. Phân chi Pseudojaca: Bao hoa hợp sinh hoàn toàn.
Cây Mít (Artocarpus heterophyllus) là loài thực vật ăn quả, thuộc Chi Mít (Artocarpus) được cho là có nguồn gốc ở Ấn Độ và Bangladesh. Quả mít là loại quả quốc gia của Bangladesh. Hiện nay Cây Mít được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới như: Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Sri Lanka , Campuchia , Việt Nam , Thái Lan, Malaysia, Indonesia, và Philippines. Cây mít cũng được tìm thấy trên khắp Châu Phi (như ở Cameroon, Uganda, Tanzania, Madagascar, và Mauritius ), cũng như ở nhiều nước nhiệt đới Nam và Trung Mỹ như Brazil, Jamaica… Quả mít và các sản phẩm từ quả mít là một mặt hàng thực phẩm phổ biến trên khắp các Châu lục khi giao thương Quốc tế ngày càng mở rộng.
Tuy nhiên văn hóa ẩm thực từ quả mít và các sản phẩm từ quả mít phong phú nhất ở Nam Á và Đông Nam Á. Ở Việt Nam cây mít đã được trồng trên khắp mọi miền đất nước từ lâu đời, trong đó có nhiều giống mít nổi tiếng như Mít nghệ, Mít mật, Mít dai, Mít ướt, Mít Tố Nữ… - Đặc điểm hình thái cấu trúc: Rễ: Mít có bộ rễ cọc nếu trồng từ hạt, trồng cây con từ các biện pháp nhân giống sẽ bị tiêu hủy rễ cọc, cây sẽ phát triển bộ rễ chum. Thân: Cao từ 10-30 m, vỏ dày màu xám sẫm, phân nhiều cành, tán lá rộng 5- 10 m. Các cây mít kích cỡ nhỏ có đường kính gốc từ 10 cm - 20 cm, cây mít trung bình đường kính gốc từ 20 cm đến 30 cm, cây mít lớn đường kính gốc trên 30 cm.
4 Thân hóa gổ và gổ mít dòn, bở, không được tốt lắm, được xếp và nhóm IV. Thân cây mít được chia thành nhiều cấp cành, cành non có lông và vết vòng lá kèm, chính các cành quyết định kích thước của tán lá. Lá: Lá đơn, mọc cách, phiến lá dày hình trái xoan, rộng hay trứng ngược, dài 7 - 15cm, đầu có mũi tù ngắn, mép lá nguyên và ở những cây non thường chia 3 thùy, mặt trên màu lục đậm bóng. Cuống lá dài 1 - 2,5cm.
Lá kèm lớn, dính thành mo ôm cành, sớm rụng. Hoa: Mít là cây có hoa đơn tính cùng gốc, với các hoa đơn tính của cả hai giới đều có mặt trên cùng một cây. Các cụm hoa sinh ra trên thân hay các cành chính. Các hoa đực mọc thành bông đuôi sóc.
Cụm hoa đực dài, gồm nhiều hoa, có lông tơ mềm, lá bắc hình khiên, bao hoa hình ống gồm 2 cánh dính nhau ở đỉnh. Cụm hoa cái hình bầu dục ở ngay trên thân hoặc các cành già. Các hoa cái nhỏ, màu hơi xanh lục mọc thành các cụm hoa ngắn, nhiều thịt trên một đế hoa lồi, bầu nhụy thượng. Sau khi thụ phấn chúng phát triển thành quả tụ (quả phức) có thể rất lớn, gồm nhiều quả bế (quả thật) hợp thành.
Quả: Quả phức rất lớn, gồm nhiều quả thật, quả thật không phát triển tạo thành xơ mít, quả thật phát triển tạo thành múi mít, múi mít có phần thịt mềm, là thành phần chính để ăn từ quả mít, trong múi mít có thể có hạt (đa số) và đôi khi không có hạt (do hạt bị thoái hóa-thiểu số). Những gai nhọn bên ngoài vỏ quả phức (quả giả) chính là các đỉnh của quả thật nằm bên trong quả phức. Quả mít to, dài chừng 30-60cm, đường kính 18-30cm, ngoài vỏ có gai. Trừ lớp vỏ gai, phần còn lại của quả mít hầu như ăn được.
Múi mít chín ăn rất thơm ngon. Hạt: Hạt mít có bên trong quả thật phát triển đầy đủ. Hạt có dạng hình thuôn dài 2-4 cm, rộng 1,5-3 cm. Hạt không có nội nhũ mà chỉ có 2 lá đài.
Trong hạt có chứa nhiều dinh dưỡng chủ yếu là chất bộ, có thể dùng như một loại hạt lương thực để nầu ăn trực tiếp hoặc chế biến nhiều các cách khác nhau. Hạt nẩy mầm khỏe và là cách để nhân giống chủ yếu. 5 - Thành phần dinh dưỡng (100g múi mít tươi): Theo phân tích của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ (USDA): Năng lượng 397 kJ (95 kcal) Carbohydrate 23,25 g Đường 19,08 g Chất xơ thực phẩm 1,5 g Chất béo 0,64 g Protein 1,72 g Vitamin A (equiv.) 5 mg (1%) Beta-carotene 61 mg (1%) Lutein và Zeaxanthin 157 mg Thiamine (vit. B 1) 0,105 mg (9%) Riboflavin (vit.
B 2) 0,055 mg (5%) Niacin (vit.329 mg (25%) Folate (vit. Nguồn: Cơ sở dữ liệu dinh dưỡng của USDA 6 * Công dụng của các bộ phận cây mít - Lá mít non được dùng làm rau Ở Việt nam và một số nước ở Châu Á lá mít non được dùng làm rau sống, lá mít non ít được ăn trực tiếp nhưng được dùng như thìa để xúc các món thịt bầm, xào. vừa là công cụ nhưng vừa là món rau xanh tăng hương vị. Về cách ăn này lá mít chỉ được dùng để thay thế lá điều.
- Cụm hoa đực dài, gồm nhiều hoa, có lông tơ mềm, lá bắc hình khiên, bao hoa hình ống gồm 2 cánh dính nhau ở đỉnh (không phát triển thành quả). Phát hoa đực của cây mít được gọi là dái mít (người Huế gọi là mít đái). Dái mít có vỏ mềm không cần gọt bỏ, có vị chát thơm nhẹ được luộc dùng trộn làm gỏi hay làm thức ăn chay. - Cụm hoa cái hình bầu dục ở ngay trên thân hoặc các cành già, khi cò nhỏ cũng được gọi là dái mít, sau đó phát triển thành quả non.
Đây là món rau đặc sản, chỉ được dùng do người có kinh nghiệm khi biết các loại hoa cái của cây mít không còn giá trị để lấy quả (người thiếu kinh nghiệm không được hái hoa mít). - Quả mít non được dùng làm rau Quả mít non đã phát triển thành quả mít thật sự, vỏ cứng và có gai nên khi ăn phải gọt bỏ vỏ. Các quả mít non còn dùng như một loại rau củ để nấu canh, kho cá, trộn gỏi… Quả mít non không dùng để ăn sống mà được gọt vỏ và luộc, xé nhỏ để làm gỏi hay xắt nhỏ để xào, nấu như một loại rau. Khi quả non đã có hạt còn mềm chất lượng rau càng tốt do có vị bùi và béo từ hạt.