PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hơn chục năm trƣớc, Eastman Kodak đã làm cả thế giới kinh doanh sửng sốt khi tuyên bố về khoản tiền 250 triệu đô la Mỹ mà công ty này chi trả cho dịch vụ outsourcing trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Kể từ đó, con số các thƣơng vụ outsourcing đã tăng vọt, và cùng với đó là giá trị hợp đồng gia công cũng tăng lên chóng mặt. Với việc hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới cùng những điều kiện thuận lợi về nhân lực, những cải thiện của hệ thống viễn thông, Internet… trong tƣơng lai không xa chắc hẳn Việt Nam cũng sẽ mở rộng hơn hình thức này.
Đó là một cơ hội mới cho Việt Nam trong việc phát triển thị trƣờng outsourcing với đối tác là các công ty trong nƣớc và xa hơn là các công ty ở nƣớc ngoài. Công ty Cổ phần Vietpointer là công ty nhỏ, mới thành lập đƣợc 3 năm với chiến lƣợc hoạt động trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ công nghệ thông tin outsourcing.Là một công ty non trẻ nênnhững hoạt động của công ty còn mang tính ngắn hạn, chƣa có định hƣớng và kế hoach lâu dài cụ thể.Vì vậy, công ty đang gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Với tầm quan trọng nhƣ trên,tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu và phát triển dịch vụ công nghệ thông tin OutSourcing tại công ty Cổ Phần Vietpointer” làm luận văn tốt nghiệp cho mình.Đây là cơ hội để tôi có thể vận dụng những điều đã học vào thực tế công việc. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu Phân tích thực trạng hoạt động và tìm ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin tại công ty cổ phần Vietpointer. Đối tượng nghiên cứu Hoạt động cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin tại công ty Cổ Phần Vietpointer. Vũ Thị Thùy Dung 11 11A QTKD1-PTTT Viện SĐH- Đại học Bách Khoa Hà Nội Viện kinh tế và Quản lý Phạm vi nghiên cứu - Nội dung: dựa vào cơ sở lý luận liên quan đến phân tích thực trạng hoạt động cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin outsourcing để phát triển hoạt động này tại công ty. - Không gian: Công ty cổ phần Vietpointer - Thời gian: o Số liệu thứ cấp đƣợc thu thập từ năm 2010 đến 2013 o Số liệu sơ cấp đƣợc thu thập từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2013 3.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài Cơ sở lý luận về tình hình các dịch vụ công nghệ thông tin tại công ty Cổ Phần Vietpointer từ đó đánh giá thực trạng các dịch vụ tại công ty để thấy đƣợc những hạn chế, tìm ra nguyên nhân và đề ra các giải pháp phát triển các dịch vụ này. Phương pháp nghiên cứu - Lấy số liệu qua kênh thông tin internet về các lĩnh vực hoạt động, lao động, doanh thu…. Và qua điều tra trực tiếp tại công ty cổ phần Vietpointer - Đồng thời sử dụng phƣơng pháp phân tích, so sánh giữa các năm. - Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin qua đó xây dựng giải phápphát triển dịch vụ công nghệ thông tin tổng quát cho công ty.
Cấu trúc luận văn Luận văn bao gồm 3 phần chính : - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thuê gia công phần mềm (software outsourcing) - Chƣơng 2: Phân tích các dịch vụ outsourcing tại Công ty Cổ Phần VietPointer - Chƣơng 3: Các giải pháp phát triển dịch vụ công nghệ thông tin outsourcing tại Công ty Cổ Phần VietPointer Vũ Thị Thùy Dung 12 11A QTKD1-PTTT Viện SĐH- Đại học Bách Khoa Hà Nội Viện kinh tế và Quản lý Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC DỊCH VỤ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN OUTSOURCING 1.1 Một số vấn đề cơ bản về Outsourcing – Thuê ngoài 1.1 Khái niệm và đặc điểm Mặc dù ngành công nghiệp outsourcing ra đời từ năm 1989 nhƣng cho đến nay, các chuyên gia kinh tế Việt Nam vẫn chƣa đƣa ra đƣa ra một định nghĩa chính thức nào về outsourcing cũng nhƣ việc tìm một cụm từ tiếng việt chính thức thay thế cho thuật ngữ outsourcing cũng không dễ dàng. Hiện tại, khi đề cập đến outsourcing, các thuật ngữ phổ biến thƣờng đƣợc dùng để thay thế hay sử dụng trong sách bảo là “Thuê ngoài”, “Thuê làm bên ngoài”. Trong luận văn của mình, tôi xin phép đƣợc giữ nguyên thuật ngữ outsourcing để đảm bảo tính chính xác. Trên tạp chí CIO Asia và MIS Financial Review, Stephanie Overby, một chuyên gia nghiên cứu về outsourcing, đã đƣa ra một định nghĩa về outsourcing nhƣ sau: “Tùy theo từng cách tiếp cận với vấn đề thì có một cách định nghĩa khác nhau về outsourcing tuy nhiên xét một cách căn bản, outsourcing chính là việc chuyển một phần dịch vụ cho bên thứ ba.Trong luận văn của mình, tôi cũng xin phép sử dụng khái niệm này để phân tích.
Nói một cách khác, outsourcing bản chất là một giao dịch, thông qua đó một công ty mua các dịch vụ từ một công ty khác khi vẫn giữ quyền sở hữu và chịu các trách nhiệm cơ bản đối với các hoạt động đó. Có hai đặc điểm cần lƣu ý trong định nghĩa về outsourcing của Stephanie Overby: Thứ nhất, outsourcing là chuyển một phần các dịch vụ bao gồm dịch vụ công nghệ thông tin (ITO), dịch vụ thuộc quá trình sản xuất kinh doanh (BPO) và dịch vụ nghiên cứu thiết kế (KPO) với mục đích chính là cắt giảm chi phí hoạt động cho doanh nghiệp, nên phần dich vụ cho outsourcing thƣờng cụ thể, không quá phức tạp, đòi hỏi sự tỉ mỉ với chi phí dịch vụ ở mức trung bình hoặc thấp. Thứ hai, bên thứ ba đƣợc nhắc đến không chỉ là các doanh nghiệp trong nƣớc mà còn là các doanh nghiệp nƣớc ngoài đƣợc thuê outsource thƣờng đƣợc gọi Vũ Thị Thùy Dung 13 11A QTKD1-PTTT Viện SĐH- Đại học Bách Khoa Hà Nội Viện kinh tế và Quản lý là thuê ngoài nội biên (inshore outsourcing) và thuê ngoài ngoại biên (offshore outsourcing). Ngoài ra, theo Wikipedia tổng kết các công việc thƣờng đƣợc outsource bao gồm: CNTT, quản lý nguồn nhân lực, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng và kế toán.
Nhiều công ty cũng thực hiện outsourcing việc hỗ trợ khách hàng trực tiếp hay qua điện thoại (call center), sản xuất và kĩ thuật. Cùng với outsourcing còn có khái niệm khác đƣợc nhắc đến contracting. Tuy nhiên việc sử dụng các thuật ngữ này hiện nay còn có nhiều nhầm lẫn do không chú ý đến sự khác biệt cơ bản giữa chúng. Mặc dù cả hai khái niệm đều là việc doanh nghiệp hoặc một tổ chức thuê một công ty để thực hiện toàn bộ hay một phần công việc nào đó cho họ, tuy nhiên chúng vẫn có sự khác nhau cơ bản: Bảng 1.1: Phân biệt Outsourcing – Contracting Outsourcing Contracting Bên cung cấp dịch vụ đƣợc quyền lựa Bên cung cấp không đƣợc quyền thay chọn giải pháp, công nghệ để thực hiện đổi, quyết định bất cứ điều gì trong quy yêu cầu dịch vụ đƣợc thuê trình xây dựng dịch vụ theo yêu cầu của bên mua dịch vụ Bên mua dịch vụ cần đƣa ra các yêu cầu Bên mua quản lý toàn bộ quá trình tạo ra cụ thể về chức năng, hoạt động của sản dịch vụ theo đúng yêu cầu về mọi mặt.
phẩm dịch vụ (Nguồn: Kansas City Star, http://intsoft.2 Lịch sử hình thành và phát triển Theo Rob Handfield trong “A Brief History of Outsourcing”, năm 2006, toàn bộ quá trình phát triển của outsourcing cho đến nay có thể khái quát thành ba chặng chính: giai đoạn sơ khai hình thành (từ năm 1989 trở về trƣớc), giai đoạn phát triển (những năm 1990), và giai đoạn hợp tác chiến lƣợc (hiện nay) 1.1 Giai đoạn sơ khai (những năm 70-80 của thế kỉ XX) Kể từ cuộc cách mạng công nghiệp các công ty đã bắt đầu liên kết để tận dụng những thế mạnh của nhau để mở rộng thị trƣờng và tăng lợi nhuận. Mô hình Vũ Thị Thùy Dung 14 11A QTKD1-PTTT Viện SĐH- Đại học Bách Khoa Hà Nội Viện kinh tế và Quản lý phổ biến của thế kỉ XX là một công ty liên doanh lớn có thể ”sở hữu, quản lý và trực tiếp điều hành nắm giữ” các nguồn lực. Đến những năm 50 -60 của thế kỉ XX, các công ty buộc phải đa dạng hóa hình thức kinh doanh để mở rộng cơ sở và tận dụng lợi thế theo quy mô để từ đó kì vọng tăng lợi nhuận, thậm chí mở rộng việc quản lý thành các cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, mọi việc đã thay đổi vào những năm 70-80 khi rất nhiều công ty không thể cạnh tranh nổi trong bối cảnh toàn cầu hóa và thậm chí bị sụp đổ do bộ máy quản lý quá cồng kềnh.
Để tăng khả năng linh hoạt và sáng tạo, các công ty bắt đầu phát triển chiến lƣợc kinh doanh mới, trong đó tập trung vào các giá trị kinh doanh cốt lõi và thuê ngoài các thành phần còn lại. Ví dụ nhƣ các nhà sản xuất, vào thời điểm này, họ bắt đầu thuê ngoài việc biên soạn, in ấn và chỉ hoàn thành công việc cuối của việc xuất bản.2 Giai đoạn phát triển (những năm 90 của thế kỉ XX) Đến những năm 1990, khi các doanh nghiệp bắt đầu tập trung vào các biện pháp cắt giảm chi phí, họ áp dụng outsource ngày càng nhiều hơn những hoạt động cần thiết vận hành công ty không liên quan trực tiếp đến giá trị kinh doanh cốt lõi của mình. Do đó các công ty bắt đầu kí kết hàng loạt các hợp đồng với các nhà cung cấp dịch vụ kế toán, quản trị nhân sự, xử lý dữ liệu, truyền thƣ, bảo vệ và triển khai kế hoạch, … tất cả đều là loại công việc liên quan đến vận hành. Thực tế, outsourcing đã góp phần không nhỏ trong việc giúp các nhà quản lý cắt giảm chi phí cải thiện tình hình tài chính công ty.3 Giai đoạn hợp tác chiến lược (giai đoạn hiện nay) Trƣớc đây, không một doanh nghiệp nào thuê ngoài những hoạt động mang giá trị cốt lõi, mang lại lợi thế cạnh tranh hoặc tạo ra sự khác biệt cho doanh nghiệp đó.Thông thƣờng, những hoạt động giúp doanh nghiệp khẳng định vị trí và uy tín công ty đối với khách hàng.
Tuy nhiên, đến những năm 1990, việc áp dụng outsource đối với những hoạt động này đã không còn hiếm hoi mà thay vào đó lại trở thành một chiến lƣợc quản lý tốt. Ví dụ có những doanh nghiệp đã outsource dịch vụ chăm sóc khách hàng mà hoạt động này đƣợc coi là một khâu vô cùng quan trọng trong quá trình kinh doanh.