Đặt vấn đề Cây ngọc ngân (Dieffenbachia picta) là một loài cây thân thảo thuộc ho Ray (Araceae), hiện nay cây ngọc ngân phân bố ở khu vực châu Á như Thái Lan, Philippines và nhiều nước khác trong đó có Việt Nam (Green và Oguzor, 2009). Cây ngọc ngân có lá rất dé nhận dang so với các cây kiểng lá khác là những đốm màu trắng xen kẽ ở phần giữa lá, phần viền lá và cuống lá thì có màu xanh và được sử dụng dé làm cây cảnh trang trí nội thất cho nhà cửa, cho văn phòng công sở, khuôn viên sân vườn cũng như tạo mảng xanh, không gian tươi mát cho các trung tâm mua sắm, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra, cây ngọc ngân đại diện cho sự giàu sang, phú quý vì chữ “ngân” trong tên cây có nghĩa là tiền bạc, chữ “ngọc” được ví von như là một báu vật rất có giá tri, khi kết hợp lại “ngọc ngân” có ý nghĩa mang đến tài lộc cho gia chủ, cho người sở hữu cây này. Ở Việt Nam, cây ngọc còn được gọi bằng một cái tên khác lãng mạn hơn là cây Valentine vì màu sắc của lá đan xen, hòa quyện lẫn nhau giống như sự gắn bó, không thể chia xa của tình yêu đôi lứa (Lê Quỳnh Anh, 2022).
Trong sản xuất, cây ngọc ngân thường được nhân giống bằng phương pháp thủ công như gieo hạt, giâm cành, tách chdi hoặc ngọn từ cây me. Các phương pháp này thường không mang lại hiệu cao, hệ số nhân cây thấp, cây có thể không đạt chất lượng tốt cũng như dễ bị thoái hoá, nhiễm khuẩn và nhiễm nam từ cây mẹ, từ môi trường nuôi trồng hoặc thao tác trong quá trình nhân giống thủ công. Trong những năm gan day, cây ngọc ngân rất được ưa chuộng trong những hội nhóm về cây cảnh, cây kiếng lá trở thành một trong những loài cây có giá trị cao về thương mại dé dam bảo được nguồn giống tốt, ôn định, sạch bệnh. Chính vì những lí do đó, kỹ thuật nuôi cay mô — tế bào thực vật là một giải pháp hiệu quả, từ một nguồn mẫu ban đầu nhỏ được nhân nhanh với hệ số cao trong thời gian ngắn, đảm bảo được chất lượng mẫu tốt, đồng nhất và di truyền được đặc tính của nguồn mẫu ban đầu.
Ngoài ra, từ năm 2018 trở lại đây, đã có những nghiên cứu về độc tố có trong Dieffenbachia như là các tinh thé oxalate canxi và magie gây độc cho mắt, cũng như tìm hiểu và khảo sát ứng dụng hoạt tính sinh hoc cũng như tác dụng phụ của Dieffenbachia về tác động chống vi khuẩn và hiệu quả chống ung thư (Syamiith va ctv, 2018). Bên cạnh đó, cũng có các nghiên cứu về sử dung Dieffenbachia dé lọc sạch những khí như benzene, toluene và xylene gây ô nhiễm không khí trong nhà gây độc hại đến sức khoẻ con người (Bandehali va ctv, 2021). Trên cơ sở đó, dé tài “Khảo sát sự phát sinh chéi và nhân nhanh cụm chdi từ mẫu đốt thân cây ngọc ngân (Dieffenbachia picta)” được nghiên cứu dé tạo ra nguồn mẫu có tỉ lệ sống cao với hệ số nhân chồi nhiều góp phan hoàn thiện quá trình nhân giống tạo cây ngọc ngân hoàn chỉnh in vitro. Mục tiêu đề tài Xác định được nồng độ chất khử trùng javel thích hợp dé xử lí mẫu đốt thân cây ngọc ngân, tạo được nguồn mẫu sống sạch để làm vật liệu tiến hành thí nghiệm khảo sat chất điều hoà sinh trưởng, từ đó tìm ra được nồng độ Kinetin tối ưu cho sự phát sinh chồi từ mẫu đốt thân và nồng độ BA tối ưu cho quá trình nhân nhanh cụm chi cây ngọc ngân.
Nội dung nghiên cứu Dé khảo sát sự phát sinh chồi của cây ngọc ngân, trước tiên cần có nguồn mẫu sạch bệnh. Vì vậy, bước đầu tiên phải tiễn hành quá trình khử trùng mẫu đốt thân cây ngọc ngân tạo ra được nguồn vat liệu sống sạch cho các thí nghiệm tiếp theo. Sử dụng nguồn mẫu đã khử trùng để tiến hành thí nghiệm khảo sát sự phát sinh chéi từ mẫu đốt thân khi thay đôi nồng độ chất điều hòa sinh trưởng Kinetin. Sau khi mẫu đốt thân đã phát sinh chdi thì thực hiện thí nghiệm khảo sát chất điều hòa sinh trưởng BA đến khả năng nhân nhanh cụm chi.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu về cây ngọc ngân 2,1,1. Phân loại Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Liliopsida Bộ: Alismatales Họ: Araceae Chi: Dieffenbachia Loài: Dieffenbachia picta 2. Nguồn gốc Hình 2.
Cây ngục ngân. Chi Dieffenbachia gồm 30 loài với hơn 100 giống có đốm, sọc hoặc lốm đốm màu trắng, màu kem, màu vàng, màu bạc hoặc là sự kết hợp của những màu này. Dieffenbachia có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ, thuộc họ Ray, các cây thuộc chi này được các nhà trang trí nội thất đánh giá cao vì tán lá đa dạng, hap dan, dùng dé trang trí trong nhà và dé sản xuất. Một số giống cây phố biến nhất được sử dụng dé trang trí nội that là Dieffenbachia picta, Dieffenbachia amoena, Dieffenbachia seguine (Elsheikh và ctv, 2013).
Cây ngọc ngân (Dieffenbachia picta) có nguồn gốc từ Costa Rica va Columbia, hiện nay chúng được trồng ở nhiều vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới (Green và Oguzor, 2009). Ở châu Á, cây ngọc ngân cũng được trồng ở khá nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, sử dụng đề làm cây cảnh trang trí nhà cửa, khuôn viên sân vườn hoặc các công trình cảnh quan tạo không gian xanh mát. Đặc điểm hình thái Cây ngọc ngân có đặc điểm dễ nhận dạng, ở phần giữa lá có nhiều đốm màu trắng xen kẽ màu xanh, phần viền lá và cuống lá có màu xanh, lá khá dày có hình bầu dục giống như mũi giáo (Hình 2.2), tán lá tương đối vừa, lá mọc từ thân cây và không đối xứng. Thân cây có màu xanh đậm, có nhiều đốt than, mỗi đốt thân sẽ có một lá và chứa một mắt ngủ, chiều cao của cây ngọc ngân trung bình khoảng 20 cm đến 60 cm, cây có rễ chùm, thường mọc thành bụi, một gốc cây thường có 5 - 6 nhánh cây.
Bên cạnh đó, cũng đã có nhiều nghiên cứu cho rằng chỉ 3 Dieffenbachia đều có độc tính đôi với con người và động vật, bởi vì tinh thể hình kim của canxi oxalate có trong Dieffenbachia sẽ gây tôn thương da và niêm mạc, con người và thú nuôi sẽ thường bị ảnh hưởng do chi Dieffenbachia được nuôi trồng trong nhà hoặc ngoài vườn (Dantas và ctv, 2011). Các nghiên cứu liên quan 2. Các nghiên cứu liên quan trong nước Năm 2013, Nguyễn Thị Thu Hằng đã thực hiện “Nghiên cứu nhân giống hoa cam chướng bang kỹ thuật nuôi cấy in vitro”. Kết quả cho thấy, môi trường MS có bố sung 0,05 mg/l BAP + 0,1 mg/l Kinetin + 0,1 mg/l NAA cho tỉ lệ mau tao cụm chồi dat 100%, hệ số nhân nhanh chồi dat 3,4 lần, chiều cao trung bình của chồi là 4,13 cm sau 4 tuần nuôi cấy.
Năm 2015, Lê Minh Ly và cộng tác viên đã thực hiện “Tái sinh chéi cây khổ qua (Momordica charantia L.) in vitro từ tử điệp”. Kết quả cho thấy, tử diép đạt được tỉ lệ tái sinh chồi 93,8% sau 3 tuần nuôi cấy trên môi trường MS có bé sung 2,5 mg/l BA, môi trường MS có bổ sung 1,0 mg/l BA kết hợp 0,2 mg/l Kinetin cho hiệu quả nhân chdi từ cây khổ qua tái sinh tốt nhất. Năm 2017, Lê Thị Diễm và Võ Thị Bạch Mai đã thực hiện “Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật lên sự nhân nhanh chổi in vitro lan Thạch hộc thiết bi (Dendrobium officinale Kimura et Migo)”. Kết qua cho thấy, đoạn thân chứa mầm ngủ nuôi cấy trên môi trường MS có bổ sung 0,5 mg/1 BA là môi 4 trường cho tỉ lệ tạo chổi cao.
Sự hình thành cụm chỗi tốt nhất trên môi trường nuôi cay MS có bồ sung 2,0 mg/l BA + 0,4 mg/l NAA. Năm 2018, Nguyễn Ngoc Quynh Tho và cộng tác viên đã thực hiện “Nghiên cứu tạo chổi in vitro cây hoa hồng ty muội (Rosa chinensis Jacq. Kết quả cho thấy, các đoạn đốt thân được khử trùng bằng dung dịch HgCh 0,2% trong thời gian 10 phút cho tỉ lệ mẫu không nhiễm và sống sót đạt 71,67%. Môi trường thích hợp dé tạo chồi in vitro từ đốt thân là môi trường MS có bố sung 2 mg/l BA kết hợp 0,5 mg/l Kinetin, 0,5 g/l than hoạt tính, pH 5,8.
Sau 21 ngày nuôi cấy, tỉ lệ bật chỗi đạt 100%, số chỗi dat 3,6 chồi/mẫu, với chiều cao trung bình của chồi là 2,2 cm. Năm 2019, Nguyễn Thanh Hải và cộng tác viên đã thực hiện “Nghiên cứu nhân giống in vitro thảo quả (Amomum aromaticum Roxb. Kết quả cho thay, xử lí HgCl› nồng độ 0,1% trong 8 phút là thích hợp nhất cho việc khử trùng đoạn thân ngầm mang mắt ngủ thao quả với tỉ lệ mẫu sạch bệnh và bật chồi đạt 26,67%. Môi trường MS bé sung 1,0 mg/l BAP là thích hợp nhất trong giai đoạn nhân nhanh, với hệ số nhân là 4,13 chồi/mẫu, chiều cao chéi trung bình 5,4 em và chất lượng chồi tốt sau 6 tuần nuôi cấy.
Môi trường ra rễ thích hợp cho chồi thảo qua là MS có bổ sung 0,5 mg/l IBA với tỉ lệ ra rễ dat 100%, sé rễ trung bình đạt 5,5 rễ/chồi và chiều dài rễ trung bình dat 6,1 cm sau 8 tuần nuôi cấy. Năm 2020, Nguyễn Minh Ty và Nguyễn Vinh Hiền đã thực hiện “Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng tạo chồi và cụm chồi lan kim tuyến nuôi cấy in vitro”. Kết quả cho thấy, cây lan kim tuyến sử dụng từ đốt thân chứa chồi ngủ, được nuôi cấy trên môi trường tối ưu là 0,3 mg/l Kinetin + 1 mg/l BA + 0,1 mg/l TDZ, b6 sung các chất dinh dưỡng khác dé cảm ứng tạo chồi. Tỉ lệ mau tạo chồi đạt 87% sau 45 ngày nuôi cấy.
Ti lệ tạo cụm chdi là 80,05%, số chỗi trên cụm là 9,2 chồi trên môi trường 1/2 MS kết hợp với 0,4 mg/l Kinetin + 1 mg/l BA + 0,2 mg/l TDZ. Chiều cao chéi đạt §em, số đốt là 6,5 d6t/than trên môi trường 1/2 MS kết hợp với 1,0 mg/1 BA và 0,5 mg/1NÑAA. Nam 2021, Lê Hoàng Hiệp đã thực hiện “Nghiên cứu nhân nhanh in vitro cây ngọc ngân (Dieffenbachia sp. Kết quả cho thay, môi trường MS có bồ sung thêm 4 mg/l BA là môi trường thích hợp cho quá trình phát sinh chồi in vitro =) ngọc ngân.
Môi trường MS có bổ sung thêm 4 mg/l BA và 1 mg/l TDZ là môi trường tối ưu cho sự nhân nhanh của chi in vitro cây ngọc ngân. Năm 2022, Vì Thị Xuân Thủy và cộng tác viên đã thực hiện “Nghiên cứu quy trình nhân giống in vitro lan phi điệp tím (Dendrobium anosmum Lindl.) từ mắt ngủ ở thân”.