Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mai với đề tài "Nghiên cứu phát hiện bệnh nhân và người mang gen bệnh Hemophilia A dựa trên phân tích phả hệ" thuộc chuyên ngành Huyết học và Truyền máu (mã số: 62720151), được thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS. Nguyễn Anh Trí và PGS. TS. Nguyễn Thị Nữ.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hemophilia A là bệnh rối loạn đông máu di truyền lặn liên kết với nhiễm sắc thể giới tính X do tổn thương gen quy định tổng hợp yếu tố VIII (F8), dẫn đến thiếu hụt hoặc bất thường chức năng yếu tố VIII huyết tương. Bệnh biểu hiện chủ yếu ở nam giới với các triệu chứng xuất huyết tái phát nhiều lần, đặc biệt ở hệ thống khớp và cơ, dẫn đến biến dạng khớp, teo cơ, tàn tật hoặc tử vong sớm nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Phụ nữ mang gen bệnh có nguy cơ truyền gen cho thế hệ sau và khoảng 50% trong số họ có nồng độ yếu tố đông máu thấp, tiềm ẩn nguy cơ xuất huyết khi phẫu thuật, chấn thương hoặc sinh nở.

Theo ước tính của Liên đoàn Hemophilia Thế giới (WFH), toàn cầu có khoảng 400.000 người mắc hemophilia, trong đó 75% chưa được chẩn đoán và điều trị đầy đủ. Tại Việt Nam, với quy mô dân số 93 triệu người (tại thời điểm khảo sát năm 2014), ước tính có khoảng 6.185 bệnh nhân hemophilia, nhưng thực tế mới chỉ chẩn đoán và quản lý được 2.373 trường hợp (xấp xỉ 40%), nghĩa là còn khoảng 60% bệnh nhân trong cộng đồng chưa được phát hiện. Dựa trên tỷ lệ ước tính của Alison Street (trung bình 1 bệnh nhân có khoảng 5 phụ nữ mang gen trong gia đình), Việt Nam có khoảng 30.000 người mang gen hemophilia, phần lớn chưa được chẩn đoán và quản lý hệ thống. Khoảng trống thực tiễn lớn nằm ở việc phát hiện chủ động các ca bệnh và người mang gen tiềm ẩn thông qua các gia đình đã có người bệnh được xác định.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Phát hiện các trường hợp hemophilia A và người mang gen bệnh trong gia đình các bệnh nhân hemophilia A dựa vào phân tích phả hệ.
  2. Phân tích một số đặc điểm xuất huyết và xét nghiệm đông máu ở bệnh nhân hemophilia A và người mang gen bệnh mới được phát hiện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Gồm 3 nhóm đối tượng:
    • Nhóm 1 (Bệnh nhân gốc): 100 bệnh nhân hemophilia A không có quan hệ huyết thống đã được chẩn đoán xác định tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, khai thác được tiền sử gia đình từ 3 thế hệ trở lên.
    • Nhóm 2 (Thành viên gia đình): 1.402 thành viên trong gia đình của 100 bệnh nhân gốc, gồm 869 nam giới có nguy cơ mắc bệnh và 533 nữ giới có liên quan di truyền (chắc chắn mang gen hoặc có khả năng mang gen). Trong nhóm nữ chắc chắn mang gen, chọn 83 người từ 14 - 50 tuổi (không có thai, không dùng thuốc tránh thai, không viêm gan) để phân tích đông máu chuyên sâu.
    • Nhóm 3 (Nhóm chứng): 70 phụ nữ khỏe mạnh từ 14 - 50 tuổi (không mang thai, không dùng thuốc tránh thai, không có tiền sử gia đình mắc hemophilia).
  • Địa điểm nghiên cứu: Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương và Trung tâm Nghiên cứu Gen - Protein, Trường Đại học Y Hà Nội.
  • Thời gian và dữ liệu: Nghiên cứu nghiệm thu và công bố năm 2018, tổng hợp dữ liệu dịch tễ, phả hệ, xét nghiệm đông máu và sinh học phân tử qua các giai đoạn triển khai tại cơ sở nghiên cứu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước

Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa các thành tựu lý thuyết và thực tiễn về bệnh hemophilia:

  • Dịch tễ và phương pháp lần theo dấu vết (Trace-back method): WFH (2008) đưa ra công thức ước tính số ca bệnh: $\text{Số bệnh nhân} = (\text{Dân số} / 2.000) \times 133$. Việc áp dụng phương pháp lần theo dấu vết phả hệ đã chứng minh hiệu quả tại nhiều quốc gia: Mexico phát hiện thêm 444 bệnh nhân sau 4 năm (nâng tỷ lệ quản lý từ 41% lên 72%); Philippines (2000 - 2009) tăng từ 416 lên 1.077 bệnh nhân (270 ca phát hiện qua truy vết); Venezuela phát hiện thêm khoảng 60 ca mới mỗi năm.
  • Nghiên cứu phả hệ phát hiện người mang gen: Carold Kasper và cộng sự (Mỹ) phân tích 731 phả hệ, ghi nhận tỷ lệ 156 người chắc chắn mang gen trên 100 bệnh nhân. Tại Ấn Độ, Shetty và cộng sự phân tích 102 phả hệ (563 thành viên) phát hiện 99 người chắc chắn mang gen và 189 người có khả năng mang gen; Kaur phát hiện 130 người chắc chắn mang gen từ 37 gia đình.
  • Cơ sở sinh học và tổn thương di truyền gen F8: Yếu tố VIII là một heterodimer gồm chuỗi nhẹ (80 kDa) và chuỗi nặng (90 - 200 kDa) nối với nhau bằng cầu nối ion đồng, cấu trúc gồm các vùng A1-A2-B-A3-C1-C2. Gen F8 nằm tại vị trí Xq28, kích thước 186 kb gồm 26 exon (exon 14 dài 3.106 bp, exon 26 dài 1.958 bp). Các dạng đột biến gen gây hemophilia A bao gồm đột biến điểm (47,5%), đột biến đảo đoạn intron 22 (chiếm 50% ở thể nặng do tái tổ hợp giữa vùng int22h1 với int22h2 hoặc int22h3 cách 400 kb), đảo đoạn intron 1 (chiếm 5% ở thể nặng do tái tổ hợp int1h1int1h2 cách 140 kb), đột biến mất đoạn (10 - 15%).
  • Chẩn đoán người mang gen qua tỷ số sinh hóa và di truyền: Tỷ số hoạt tính yếu tố VIII trên kháng nguyên yếu tố von Willebrand (VIII/vWF:Ag) được nghiên cứu nhằm phân biệt người mang gen với người bình thường (ngưỡng chẩn đoán tại Ấn Độ là 0,7; Philippines là 0,6; Thái Lan là 0,82). Phân tích liên kết đa hình sử dụng enzym giới hạn (BclI trên intron 18) và giải trình tự gen trực tiếp giúp chẩn đoán xác định và hỗ trợ chẩn đoán trước sinh (sinh thiết gai rau tuần 9 - 14, chọc ối tuần 15 - 17, lấy máu tĩnh mạch rốn tuần 18 - 20).
  • Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Cung Thị Tý và cộng sự (1997) xác định tỷ lệ mắc tại miền Bắc là 25 - 60 người/triệu dân; Dương Bá Trực (2011) triển khai sàng lọc tại Bắc Giang và Hải Phòng. Phạm Quang Vinh xác định tỷ lệ dị hợp tử của đa hình BclI ở quần thể người Việt Nam là 48%. Nguyễn Thị Mai (2014) khảo sát 258 bệnh nhân ghi nhận tỷ lệ đảo đoạn intron 22 là 31,5%, intron 1 là 1,15%. Bùi Thị Thu Hương (2014) áp dụng chẩn đoán mang gen cho 116 phụ nữ.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù đã có một số nghiên cứu phân lập đột biến hoặc khảo sát dịch tễ đơn lẻ, các trung tâm hemophilia tại Việt Nam trước năm 2018 chưa xây dựng được quy trình phối hợp có hệ thống giữa phân tích phả hệ tối thiểu 3 thế hệ với sàng lọc lâm sàng, định lượng sinh hóa tỷ số VIII/vWF:Ag (xác lập điểm cắt bằng đường cong ROC riêng cho người Việt) và các kỹ thuật sinh học phân tử (Long-range PCR, PCR-RFLP BclI, giải trình tự gen) nhằm phát hiện đồng thời cả bệnh nhân mới và người mang gen trong gia đình.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và nguyên lý sử dụng

  • Quy luật di truyền liên kết nhiễm sắc thể X của Mendel: Gen F8 di truyền lặn liên kết NST X. Nam giới mang đột biến ($X^hY$) biểu hiện bệnh; nữ giới dị hợp tử ($X^HX^h$) là người mang gen. Phả hệ gia đình Nữ hoàng Anh Victoria là mô hình kinh điển minh chứng cho sự truyền gen qua các thế hệ nữ mang gen sang con trai mắc bệnh.
  • Giả thuyết Lyon (Lyonization / Bất hoạt NST X): Mary Lyon chỉ ra rằng một trong hai NST X ở tế bào nữ giới bị bất hoạt ngẫu nhiên trong giai đoạn phôi thai, tạo ra thể khảm. Do đó, người nữ mang gen có thể có nồng độ yếu tố VIII biến thiên rộng từ mức bình thường đến giảm nặng.
  • Cơ chế tỷ số VIII/vWF:Ag: Hemophilia A làm giảm nồng độ yếu tố VIII nhưng không làm giảm protein mang vWF. Do đó tỷ số VIII/vWF:Ag ở người mang gen thấp hơn rõ rệt so với người bình thường, là cơ sở để phân tích đường cong ROC (Receiver Operating Characteristic) tìm ngưỡng chẩn đoán.

Tiêu chuẩn phân loại người mang gen theo phả hệ

Nhóm đối tượng Tiêu chuẩn xác định trên phả hệ
Người chắc chắn mang gen (thỏa mãn $\ge 1$ trong 4 điều kiện) 1. Có bố là bệnh nhân hemophilia.
2. Có ít nhất 2 con trai bị bệnh.
3. Có 1 con trai bị bệnh và có ít nhất 1 nam giới họ ngoại bị hemophilia.
4. Có 1 con trai bị bệnh và có ít nhất 1 phụ nữ họ ngoại được xác định mang gen.
Người có khả năng mang gen (thỏa mãn $\ge 1$ trong 3 điều kiện) 1. Có 1 con trai bị bệnh và gia đình không có ai khác mắc/mang gen (ca đơn phát).
2. Có ít nhất 1 nam giới họ ngoại bị bệnh nhưng bản thân chưa có con trai bị bệnh.
3. Là con gái của người mang gen bệnh.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu.
  • Quy trình thu thập và xử lý số liệu:
    1. Lập và phân tích phả hệ: Thu thập thông tin tối thiểu 3 thế hệ từ 100 bệnh nhân gốc; vẽ phả hệ theo quy ước chuẩn hóa của Hội Tư vấn Di truyền Quốc gia Mỹ (NSGC 2008).
    2. Sàng lọc bằng bảng hỏi: Rà soát triệu chứng chảy máu bất thường ở các thành viên nam giới có nguy cơ.
    3. Xét nghiệm đông máu: Thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa (APTT), thời gian prothrombin (PT), thời gian thrombin (TT), định lượng fibrinogen, định lượng yếu tố VIII bằng phương pháp 1 thì, định lượng kháng nguyên yếu tố von Willebrand (vWF:Ag).
    4. Xét nghiệm sinh học phân tử: Tách chiết ADN từ bạch cầu máu ngoại vi; Long-range PCR phát hiện đảo đoạn intron 22 và intron 1; PCR-RFLP phân tích đa hình vị trí cắt enzym BclI trên intron 18 gen F8 và enzym MseI; giải trình tự gen trực tiếp bằng máy giải trình tự tự động.
    5. Phân tích thống kê: Xử lý số liệu mô tả, so sánh các biến định tính và định lượng; xây dựng đường cong ROC, tính diện tích dưới đường cong (AUC), xác định điểm cắt tối ưu với độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhất cho tỷ số VIII/vWF:Ag.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề và Chương 1: Tổng quan

Chương 1 trình bày chi tiết định nghĩa, cơ chế đông máu huyết tương, cấu trúc sinh học và di truyền của yếu tố VIII, các dạng đột biến gen F8 (đột biến điểm, đột biến đảo đoạn intron 22 và intron 1, mất đoạn, chèn đoạn chuỗi alu). Tác giả phân tích các phương pháp chẩn đoán tình trạng mang gen (phân tích phả hệ, hóa sinh đông máu, phân tích di truyền trực tiếp và gián tiếp qua phân tích liên kết đa hình RFLP), các thủ thuật chẩn đoán trước sinh (sinh thiết gai rau, chọc ối, lấy máu cuống rốn, xác định giới tính thai qua ADN tự do lưu hành trong máu mẹ), phác đồ điều trị bổ sung yếu tố VIII kiểm soát chảy máu và điều trị dự phòng (tiên phát, thứ phát), cùng tổng quan kinh nghiệm quốc tế và trong nước về chiến dịch lần theo dấu vết phả hệ.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết tiêu chuẩn chọn mẫu và tiêu chuẩn loại trừ cho 100 bệnh nhân gốc, 1.402 thành viên gia đình (869 nam giới và 533 nữ giới liên quan) và 70 người chứng khỏe mạnh. Chương này trình bày chi tiết bảng biến số nghiên cứu (nhân khẩu học, mức độ bệnh, tiền sử xuất huyết, nồng độ yếu tố VIII, đa hình di truyền), các quy trình kỹ thuật phòng xét nghiệm đông máu và sinh học phân tử tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương và Trung tâm Nghiên cứu Gen - Protein Đại học Y Hà Nội, nguyên tắc đạo đức nghiên cứu y sinh học và phương pháp phân tích thống kê đường cong ROC.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 tổng hợp toàn bộ các số liệu và phát hiện của luận án thông qua hệ thống bảng biểu và sơ đồ:

  • Đặc điểm bệnh nhân gốc: Phân bố mức độ bệnh của 100 bệnh nhân gốc gồm các thể nặng, trung bình và nhẹ; phân bố theo tiền sử gia đình (gia đình có nhiều người mắc và ca bệnh đơn phát); xác định các tổn thương di truyền đặc trưng (tỷ lệ đảo đoạn intron 22, đảo đoạn intron 1, đột biến điểm qua giải trình tự gen).
  • Phát hiện bệnh nhân mới: Qua sàng lọc 869 nam giới bằng bảng hỏi và định lượng yếu tố VIII < 40%, phát hiện các bệnh nhân mới chưa từng được chẩn đoán; phân tích mối quan hệ huyết thống giữa bệnh nhân mới với bệnh nhân gốc trên sơ đồ phả hệ; thống kê đặc điểm lâm sàng, độ tuổi chẩn đoán, thể bệnh, mức độ giảm yếu tố VIII và các biến chứng xuất huyết khớp, cơ, hạn chế vận động; thống kê nguyên nhân tử vong của các thành viên nam giới có tiền sử chảy máu bất thường trong dòng họ.
  • Phát hiện và chẩn đoán người mang gen:
    • Phân loại 533 phụ nữ thành nhóm chắc chắn mang gen và nhóm có khả năng mang gen dựa trên 4 tiêu chuẩn và 3 tiêu chuẩn phả hệ.
    • Kết quả phân tích tổn thương di truyền trực tiếp (đảo đoạn intron 22, giải trình tự) và phân tích gián tiếp PCR-RFLP BclI/intron 18 (xác định tỷ lệ dị hợp tử của các bà mẹ mang gen).
    • So sánh nồng độ yếu tố VIII, vWF:Ag và tỷ số VIII/vWF:Ag giữa nhóm phụ nữ mang gen với nhóm chứng 70 phụ nữ khỏe mạnh.
    • Xây dựng đường cong ROC của tỷ số VIII/vWF:Ag: xác định diện tích dưới đường cong (AUC), điểm cắt (cut-off) tối ưu, độ nhạy và độ đặc hiệu trong chẩn đoán tình trạng mang gen; so sánh mức độ phù hợp giữa chẩn đoán bằng tỷ số VIII/vWF:Ag với kết quả phân tích gen.
    • Phân tích nồng độ yếu tố VIII ở người mang gen theo mức độ bệnh của bệnh nhân gốc, mối liên quan giữa nồng độ yếu tố VIII với triệu chứng xuất huyết lâm sàng (rong kinh, chảy máu chân răng, vết bầm tím, chảy máu sau nhổ răng/phẫu thuật).

Chương 4: Bàn luận

Tác giả bàn luận sâu sắc về các khía cạnh:

  • Hiệu quả và tính kinh tế của phương pháp lần theo dấu vết phả hệ trong việc chủ động phát hiện bệnh nhân ẩn so với kinh nghiệm của Mexico, Philippines và Venezuela.
  • Đặc điểm lâm sàng và đông máu của bệnh nhân mới được chẩn đoán: thực trạng chẩn đoán muộn dẫn đến biến chứng khớp và cơ teo.
  • Giá trị và giới hạn của phân tích phả hệ trong phân loại người mang gen; bàn luận về các trường hợp bệnh nhân đơn phát do đột biến mới ở tế bào mầm hoặc thể khảm ở mẹ.
  • Giá trị ứng dụng của tỷ số VIII/vWF:Ag: so sánh điểm cắt của nghiên cứu với các nghiên cứu tại Ấn Độ (0,7), Philippines (0,6), Thái Lan (0,82); giải thích sự biến thiên nồng độ yếu tố VIII ở người mang gen do hiện tượng bất hoạt NST X ngẫu nhiên (Mary Lyon).
  • Hiệu quả phối hợp đa tầng: kết hợp phả hệ $\rightarrow$ hóa sinh đông máu (VIII/vWF:Ag) $\rightarrow$ sinh học phân tử (Long-range PCR, PCR-RFLP, giải trình tự) trong chẩn đoán xác định người mang gen và tư vấn chẩn đoán trước sinh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Luận án đã chuẩn hóa và chứng minh tính khoa học của quy trình tiếp cận toàn diện từ phả hệ gia đình tối thiểu 3 thế hệ đến sinh học phân tử trong việc sàng lọc hemophilia A tại Việt Nam.
  2. Xác lập cơ sở dữ liệu về mối tương quan giữa kiểu gen, nồng độ yếu tố đông máu VIII và biểu hiện xuất huyết lâm sàng ở phụ nữ mang gen tại Việt Nam; minh chứng trên thực nghiệm hiện tượng bất hoạt NST X ngẫu nhiên dẫn đến khoảng 50% người mang gen có suy giảm yếu tố VIII.
  3. Xác định giá trị chẩn đoán của tỷ số sinh hóa VIII/vWF:Ag bằng phương pháp phân tích đường cong ROC, cung cấp điểm cắt đặc thù cho phụ nữ Việt Nam khi chưa có điều kiện làm xét nghiệm gen.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Phát hiện trực tiếp người bệnh và người mang gen ẩn: Bằng phương pháp lần theo dấu vết từ 100 gia đình bệnh nhân gốc, nghiên cứu đã phát hiện thêm nhiều bệnh nhân hemophilia A mới chưa từng được chẩn đoán, giúp họ tiếp cận điều trị kịp thời, hạn chế nguy cơ tàn phế do chảy máu khớp tái phát.
  2. Xác định chính xác nhóm phụ nữ mang gen: Phân loại rõ ràng các đối tượng chắc chắn mang gen và có khả năng mang gen từ 533 phụ nữ có liên quan huyết thống; ứng dụng thành công kỹ thuật Long-range PCR phát hiện đảo đoạn intron 22, PCR-RFLP BclI và giải trình tự gen để chẩn đoán xác định tình trạng mang gen.
  3. Phục vụ chẩn đoán trước sinh và nâng cao chất lượng dân số: Kết quả nghiên cứu trực tiếp phục vụ công tác tư vấn di truyền hôn nhân, quản lý thai nghén an toàn cho các thai phụ mang gen và hỗ trợ chẩn đoán trước sinh (qua sinh thiết gai rau hoặc chọc ối), ngăn ngừa sinh ra trẻ mắc bệnh nặng.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Triển khai thường quy việc khai thác tiền sử, lập cây phả hệ 3 thế hệ cho 100% bệnh nhân hemophilia đến khám tại các trung tâm huyết học trên cả nước.
  • Thiết lập hệ thống lưu trữ mẫu ADN cho các bệnh nhân hemophilia, đặc biệt là các ca bệnh đơn phát, để bảo tồn nguồn thông tin di truyền phục vụ chẩn đoán cho các thế hệ sau.
  • Phối hợp chặt chẽ giữa chuyên khoa Huyết học và Sản khoa trong việc theo dõi thai kỳ, kiểm tra định lượng yếu tố VIII trong 3 tháng cuối thai kỳ cho người mang gen để dự phòng băng huyết sau sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án gặp một số khó khăn khách quan trong việc tập hợp đầy đủ mẫu máu của tất cả thành viên trong phả hệ do yếu tố phân tán địa lý, một số thành viên nam có biểu hiện xuất huyết nặng đã tử vong từ trước, hoặc các rào cản tâm lý e ngại xét nghiệm di truyền ở một số gia đình. Phương pháp phân tích liên kết RFLP phụ thuộc vào tỷ lệ dị hợp tử của chỉ thị và không áp dụng được cho các ca đột biến mới đơn phát khi thiếu mẫu đối chứng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu áp dụng kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) để quét toàn bộ vùng mã hóa và các intron sâu của gen F8; nghiên cứu sâu hơn về thể khảm tế bào sinh dục ở các bà mẹ có con mắc bệnh đơn phát; phát triển kỹ thuật chẩn đoán di truyền tiền làm tổ (PGD) kết hợp thụ tinh trong ống nghiệm để chủ động chọn phôi không mang đột biến.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và giảng viên y học: Luận án là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp lập phả hệ di truyền học người (theo chuẩn NSGC), ứng dụng phân tích đường cong ROC trong y học thực chứng và phương pháp kết hợp xét nghiệm đông máu với các kỹ thuật sinh học phân tử (PCR-RFLP, Long-range PCR).
  • Đối với bác sĩ lâm sàng Huyết học, Sản khoa và Nhi khoa: Cung cấp hướng dẫn thực hành phát hiện sớm người bệnh, quản lý toàn diện nguy cơ xuất huyết ở phụ nữ mang gen và quy trình tư vấn di truyền trước sinh.
  • Đối với nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách: Cung cấp bằng chứng thực tiễn về hiệu quả chi phí của phương pháp lần theo dấu vết phả hệ, làm cơ sở xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về quản lý và phòng ngừa các bệnh rối loạn chảy máu di truyền tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Dựa vào phả hệ, người phụ nữ được xác định là chắc chắn mang gen hemophilia A khi nào?

Theo quy luật di truyền lặn liên kết NST X, một người phụ nữ được xác định chắc chắn mang gen khi thỏa mãn ít nhất một trong bốn tiêu chuẩn:

  1. Có bố đẻ là bệnh nhân hemophilia.
  2. Đã sinh ra ít nhất hai con trai mắc bệnh hemophilia.
  3. Có một con trai mắc bệnh và có ít nhất một nam giới thuộc họ ngoại mắc bệnh hemophilia.
  4. Có một con trai mắc bệnh và có ít nhất một phụ nữ thuộc họ ngoại đã được chẩn đoán xác định là người mang gen.

2. Ý nghĩa và giá trị của tỷ số sinh hóa VIII/vWF:Ag trong chẩn đoán người mang gen là gì?

Ở bệnh nhân hemophilia A và người mang gen, gen F8 bị đột biến làm suy giảm sản xuất yếu tố VIII nhưng quá trình tổng hợp yếu tố von Willebrand (vWF - do gen khác quy định) vẫn diễn ra bình thường. Đa số người mang gen có nồng độ vWF cao hơn so với yếu tố VIII, dẫn đến tỷ số VIII/vWF:Ag thấp hơn rõ rệt so với người bình thường (thường dao động 0,18 - 0,9 ở người mang gen so với 0,74 - 2,2 ở người bình thường). Xét nghiệm này giúp sàng lọc nhanh tình trạng mang gen tại các cơ sở chưa có trang thiết bị sinh học phân tử.

3. Đột biến đảo đoạn intron 22 trên gen F8 xảy ra theo cơ chế phân tử nào?

Đảo đoạn intron 22 là đột biến phổ biến nhất ở bệnh nhân hemophilia A thể nặng (chiếm khoảng 50%). Cơ chế do trong intron 22 có trình tự int22h1 tương đồng đến 99,9% với hai vùng int22h2int22h3 nằm ngoài gen F8 (cách 500 kb về phía đầu mút NST X). Hiện tượng tái tổ hợp tương đồng nội nhiễm sắc thể diễn ra giữa int22h1 với int22h2 hoặc int22h3 làm đảo ngược cấu trúc, chia cắt gen F8 thành hai đoạn tách rời (exon 1-22 và exon 23-26) cách nhau 400 kb, làm gen bị bất hoạt hoàn toàn.

4. Phương pháp "Lần theo dấu vết" (Trace-back) có ưu thế gì so với điều tra dịch tễ thông thường?

Do hemophilia là bệnh di truyền theo dòng mẹ, một gia đình thường có nhiều thành viên cùng huyết thống mang gen hoặc mắc bệnh chưa được phát hiện. Phương pháp lần theo dấu vết phả hệ tập trung vào các gia đình đã có ca bệnh chỉ điểm (bệnh nhân gốc), từ đó truy ngược và sàng lọc đúng các cá thể nam có nguy cơ mắc và cá thể nữ có nguy cơ mang gen. Phương pháp này giúp phát hiện ca bệnh với độ chính xác cao, tiết kiệm thời gian, tối ưu hóa chi phí xét nghiệm so với sàng lọc đại trà trong cộng đồng.

5. Vì sao một số phụ nữ mang gen hemophilia A vẫn có biểu hiện xuất huyết trên lâm sàng?

Hiện tượng này được giải thích bằng giả thuyết Lyon (Mary Lyon): trong quá trình phát triển phôi sớm ở nữ giới, một trong hai NST X trong mỗi tế bào sinh dưỡng bị bất hoạt ngẫu nhiên và biến thành thể dị nhiễm sắc. Người nữ dị hợp tử sẽ có một tỷ lệ tế bào biểu hiện NST X mang gen lành và một tỷ lệ tế bào biểu hiện NST X mang gen đột biến. Nếu sự bất hoạt ngẫu nhiên nghiêng nhiều về phía NST mang gen lành, tế bào gan sẽ giảm tổng hợp yếu tố VIII (nồng độ < 40%), khiến người phụ nữ có triệu chứng xuất huyết như rong kinh, chảy máu khó cầm sau nhổ răng hoặc phẫu thuật.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Mai đã chứng minh xuất sắc hiệu quả thực tiễn và tính khoa học của phương pháp phân tích phả hệ kết hợp với xét nghiệm đông máu và kỹ thuật sinh học phân tử trong việc phát hiện bệnh nhân hemophilia A và người mang gen tại Việt Nam. Công trình đã làm sáng tỏ đặc điểm dịch tễ, tổn thương di truyền và kiểu hình xuất huyết của người bệnh cũng như người mang gen trong cộng đồng. Đây là công trình nghiên cứu toàn diện, đóng góp nền tảng quan trọng cho công tác chẩn đoán sớm, điều trị dự phòng biến chứng và tư vấn di truyền trước sinh nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh hemophilia tại Việt Nam.