Chương 1: Tổng quan về bảo hộ quyền tác giả và công nghệ Blockchain trong bảo hộ quyền tác giả 1. Khái quát về bảo hộ quyền tác giả 1. Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ xuất hiện và được ghi nhận rất sớm, các nghiên cứu trên thế giới về lịch sử luật sở hữu trí tuệ đều dẫn chiếu đến Hy Lạp và La Mã và sau đó là các quốc gia châu Âu khác. Việc công nhận, bảo vệ các quyền và tài sản trí tuệ đã được thế giới quan tâm như vậy nhằm mục đích khuyến khích, thúc day sáng tạo bởi trong khi tài sản thiên nhiên có thể bị cạn kiệt thì các sản phẩm trí tuệ từ sức sáng tạo của con người là vô hạn.
Tại Việt Nam, trước thời kỳ đổi mới, trong những năm 80 của thé kỷ XX, chỉ một vài đối trong SHTT bat đầu được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, bắt đầu bằng Điều lệ Sáng kiến - Sáng chế ban hành kèm theo Nghị định 31-CP của Chính phủ ngày 23/1/1981. Trước đó, quyền tác giả lần đầu tiên được nhắc đến và điều chỉnh trong Thông tư của Bộ Văn Hoá số 04-VH/TT ngày 7 tháng 1 năm 1987. Sau quá trình thay đổi, tiếp thu các van đề lý luận cũng như thực tế thực hiện quyền tác giả thì đến nay, pháp luật Việt Nam đã hình thành một hệ thống các văn bản điều chỉnh quyền tác giả trong đó bao gồm các điều ước quốc tế về quyền tác giả, Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 (sửa đổi, bố sung năm 2009, 2019) và các văn bản dưới luật. Khái niệm quyền tác giả hiện nay thường được tiếp cận theo hai khía cạnh.
Một số nước như Anh, Mỹ sử dụng thuật ngữ “bản quyền” (copyright) dé nhắn mạnh, hướng tới bảo vệ quyền thương mại, đặc biệt là quyền sao chép, nhân bản tác phẩm của những chủ thể khai thác thương mại tài sản trí tuệ như người sử dụng lao động, công ty khai thác tác phẩm. Ngược lại, tại một số nước khác như Pháp trong đó có Việt Nam theo trường phái pháp luật lại sử dụng thuật ngữ quyền tác giả (author’s right) gắn với bao vệ các quyên của người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm. Khái niệm quyền tác giả có thé được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Tổng quan, quyên tác giả là tong hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhăm điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ việc tạo ra và sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
Các quy định mà nhà nước ban hành tập trung chủ yếu vào các quyền nhân thân và quyền tài sản mà tác giả, chủ sở hữu được hưởng - đây là những quyền mà các chủ thể khác trong xã hội cần phải tôn trọng, không được phép xâm phạm. Quyền tác giả còn là mối quan hệ giữa tác gia, chủ sở hữu với các chủ thé khác trong xã hội, họ có quyền yêu cầu chủ thê khác thực hiện hành vi theo đúng quy định của pháp luật dé đảm bảo quyên lợi của mình. Pháp luật Việt Nam tại khoản 2 điều 4 Luật SHTT 2005 quy 5 định: “Quyển tác giả là quyên của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tao ra hoặc sở hữu”. Tóm lại, quyền tác giả là quan hệ pháp luật có chủ thé là t6 chức, cá nhân sáng tạo hoặc sở hữu, khách thể là các tác pham van hoc, nghé thuat, khoa hoc va nội dung là các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm.
Thuật ngữ “bảo hộ” được nhắc đến rất nhiều lần trong luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam nhưng lại không có định nghĩa thế nào là bảo hộ quyền tác giả hay bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, trong Hiệp định TRIPs mà Việt Nam là thành viên có giải thích bảo hộ quyên sở hữu trí tuệ là “bao gôm các vấn dé ảnh hưởng đến khả năng dat được, việc dat được, phạm vi, việc duy trì hiệu lực và việc thực thi các quyên SHTT, cũng như các vấn dé anh hưởng đến việc sử dung các quyên SHTT”!. Như vay, bảo hộ quyền tác gia là tong hợp chế định pháp lý nhằm xác lập, ghi nhận, thực hiện, khai thác va bảo vệ quyên tác giả bằng pháp luật; quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm đối với toàn bộ hoặc một phần tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Về nguyên tắc, quyền tác giả cũng được bảo hộ theo nguyên tắc chung của luật dân sự.
Mặt khác, quyền tác giả là quyền đối với các tài sản vô hình nên Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức chứa đựng của tác phẩm khi nó được tao ra và thé hiện dưới hình thức nhất định mà không bảo hộ nội dung sáng tạo tác phâm chứ không bảo hộ dưới dạng ý tưởng. Do đó, nhiều tác phẩm có cùng nội dung nhưng có sự sáng tạo khác nhau trong hình thức thể hiện đều được bảo hộ. Tuy nhiên, những nội dung thể hiện trong tác phẩm sẽ không được bảo hộ nếu đi ngược lại lợi ích dân tộc, bôi nhọ vĩ nhân, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, có nội dung trái pháp luật, đạo đức, xã hội. Cơ chế bảo hộ của quyền tác giả là cơ chế bảo hộ tự động, phat sinh ké từ khi tác pham được sáng tạo và được thê hiện dưới một hình thức vật chất nhất định.
Tại thời điểm đó, tác giả được bảo hộ về mặt pháp lí, có các quyền của người sáng tao mà không cần thông qua bất kì thủ tục đăng kí nào bởi đây là một loại quyền “tuyên nhận”. Quyền tác giả được bảo hộ theo phạm vi lãnh thổ, tức phát sinh theo pháp luật nước nào thì chỉ có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ nước đó?. Ra khỏi phạm vi lãnh thổ nước thì quyền tác giả không còn được ghi nhận về mặt pháp lý, trừ trường hợp có quy định tại điều ước quốc tế. Quyền tác giả không được bảo hộ tuyệt đối bởi giới hạn về thời gian và những trường hợp ngoại lệ, hạn chế.
Theo đó, tác phẩm chỉ được bảo hộ trong một khoảng thời gian gian nhất đinh, bắt đầu khi tác pham hình thành và chấm dứt sau một khoảng thời 1 Chú thích 3 hiệp định TRIPs 2 Vũ Thị Phương Lan. gian ké từ khi tác giả qua đời (trừ quyền nhân thân được bảo hộ vĩnh viễn). Ngoài ra, trong một số trường hợp, người sử dụng có thé không cần xin phép, không cần trả thù lao cho tác giả hoặc phải trả thù lao nhưng không cần xin phép để sử dụng tác phẩm. Bảo hộ quyền tác giả 1.
Bảo hộ trong xác lập và công nhận quyên tác giả Theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 22/2018/NĐ-CP thì “ác gid là người trực tiếp sang tạo ra mot phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học”. Có thê hiểu, tác gia là người bằng lao động trí tuệ của mình trực tiếp sáng tạo ra tác phâm bang việc sử dụng ký tự âm nhạc, âm thanh, ca từ được sắp xếp dưới một hình thức vật chất nhất định mà người khác có thể cảm nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua sự trợ giúp của các thiết bị, phương tiện, mang đậm nét dấu ấn cá nhân của người sáng tạo, mang tính chất độc đáo, riêng có, nguyên thủy, độc lập, mới có của sang tao, không sao chép từ những sáng tạo hiện có. Tại khoản 1 và 2 Điều 13 Luật Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đôi, bố sung năm 2009, 2019, tác giả được bảo hộ theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam được xác định dựa trên các tiêu chí: (1) Quốc tịch: Tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài; (1) Nơi thực hiện hành vi: Tổ chức, cá nhân nước ngoài được bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam nếu có tác phẩm được công bồ lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bồ ở bất ky nước nào hoặc được công bố đông thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, ké từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; (iii) Điều ước quốc tế: Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên. Tác giả còn có thể phân loại thành tác giả đơn nhất và đồng tác giả.
Tác giả đơn nhất là “NGưỜi trực tiếp sang tạo ra mot phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học”. Khái niệm đồng tác giả được quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 22/2018/NĐ-CP “là những tác giả cùng trực tiếp sáng tạo ra một phân hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học.” Như vậy, Tác giả đích thị là người trực tiếp sáng tạo ra tác phâm nhưng chủ sở hữu quyền tác giả chưa chắc đã là người trực tiếp sáng tao ra tác phâm. Chủ sở hữu có thé là tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả, người thừa kế của tác giả. Về tác phẩm, khoản 7 Điều 4 Luật SHTT quy định: “7ác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bat ky phuong tién hay hình thức nào.
Tac phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được nhà nước bảo hộ là các loại tác phâm được quy định cụ thể tại điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đôi bổ sung năm 2009 về quyên tác gia, quyên liên quan. Quyền tác giả là một trong các quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật bảo vệ. Theo khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 và 2019 định nghĩa: “J. Quyển sở hữu trí tuệ là quyên của tô chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gom quyên tác giả và quyên liên quan đến quyên tác giả, quyên sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trông.
” Quyên tác giả là quyên của tổ chức, cá nhân đổi với tác phẩm do minh sáng tạo ra hoặc sở hữu theo khoản 2 Diéu 4 Luật này. Đây là một trong các quyên sở hữu trí tuệ được dé cập đến dau tiên trong toàn bộ văn ban.” Từ những phân tích trên có thể hiểu đơn giản xác lập quyền tác giả là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyên thừa nhận một cá nhân, tổ chức là tác giả của một tác phẩm do mình tự sáng tạo ra hoặc do mình sở hữu thông qua các giao dịch hợp pháp.