Luận văn đại học thương mại pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần xuất khẩu thủy sản 2 quảng ninh

Luận văn phân tích pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn tại công ty cổ phần xuất khẩu thủy sản 2 Quảng Ninh.

Trường đại học

Đại học Thương mại

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận
56
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

0.3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu

0.4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Kết cấu bài khóa luận tốt nghiệp

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.1.2. Khái niệm pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.2.1. Cơ sở ban hành pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.2.2.1. Nội dung pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.2.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.3. Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.4. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT KHẨU THỦY SẢN 2 QUẢNG NINH

2.1. Tổng quan tình hình và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.1.1. Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam

2.2. Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật Việt Nam điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.2.1. Thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.2.2. Thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

2.3. Thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Công ty cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh

2.3.1. Khái quát hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Công ty cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh

2.3.2. Thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Công ty cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh

2.4. Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu

2.5. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và nâng cao hiệu quả áp dụng tại Công ty cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh

3.2.1. Về phía Nhà nước

3.2.2. Về phía Công ty cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh

3.2.3. Về phía pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

3.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

3.4. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một lĩnh vực quan trọng trong thương mại toàn cầu. Nó không chỉ quy định các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng mà còn tạo ra khung pháp lý cho các giao dịch thương mại. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc hiểu rõ các quy định này là rất cần thiết cho các doanh nghiệp, đặc biệt là Công ty cổ phần Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh.

1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là thỏa thuận giữa các bên ở các quốc gia khác nhau về việc mua bán hàng hóa. Nó bao gồm các điều khoản về giá cả, chất lượng, thời gian giao hàng và phương thức thanh toán.

1.2. Cơ sở pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Cơ sở pháp lý cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm các điều ước quốc tế, luật thương mại quốc gia và các quy định của tổ chức thương mại quốc tế. Những quy định này giúp đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong giao dịch.

II. Thách thức trong việc áp dụng pháp luật hợp đồng tại Công ty Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh

Công ty Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc áp dụng pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh mà còn có thể dẫn đến tranh chấp pháp lý.

2.1. Những bất cập trong quy định pháp luật hiện hành

Nhiều quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn thiếu tính đồng bộ và chưa phù hợp với thực tiễn thương mại. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện hợp đồng.

2.2. Khó khăn trong việc đàm phán và ký kết hợp đồng

Việc đàm phán và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường gặp khó khăn do sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa và quy định pháp luật giữa các quốc gia. Điều này có thể dẫn đến hiểu lầm và tranh chấp.

III. Phương pháp nghiên cứu pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Để nghiên cứu pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, so sánh và tổng hợp. Những phương pháp này giúp làm rõ các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Công ty Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh.

3.1. Phân tích các quy định pháp luật hiện hành

Phân tích các quy định pháp luật hiện hành giúp xác định những điểm mạnh và điểm yếu trong hệ thống pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Điều này là cần thiết để đưa ra các kiến nghị cải cách.

3.2. So sánh với các quy định quốc tế

So sánh các quy định pháp luật trong nước với các quy định quốc tế giúp nhận diện những khoảng trống và bất cập trong pháp luật Việt Nam. Điều này cũng giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

IV. Ứng dụng thực tiễn pháp luật hợp đồng tại Công ty Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh

Việc áp dụng pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Công ty Xuất khẩu Thủy sản 2 Quảng Ninh đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả áp dụng.

4.1. Kết quả đạt được trong việc áp dụng pháp luật

Công ty đã thực hiện thành công nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, góp phần nâng cao doanh thu và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số tranh chấp cần được giải quyết.

4.2. Những vấn đề phát sinh trong thực tiễn

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty gặp phải một số vấn đề như chậm giao hàng, chất lượng hàng hóa không đạt yêu cầu. Những vấn đề này cần được khắc phục để đảm bảo uy tín và chất lượng dịch vụ.

V. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cần có những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành. Những kiến nghị này sẽ giúp giảm thiểu tranh chấp và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

5.1. Đề xuất sửa đổi bổ sung quy định pháp luật

Cần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. Điều này sẽ giúp tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc cho các doanh nghiệp.

5.2. Tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức

Cần tăng cường đào tạo cho cán bộ, nhân viên trong lĩnh vực pháp lý để nâng cao nhận thức về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Điều này sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại và đầu tư. Việc hoàn thiện pháp luật này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

6.1. Tương lai của pháp luật hợp đồng tại Việt Nam

Trong tương lai, pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam sẽ tiếp tục được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của thị trường và hội nhập quốc tế. Điều này sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

6.2. Vai trò của doanh nghiệp trong việc thực thi pháp luật

Doanh nghiệp cần chủ động trong việc tìm hiểu và áp dụng pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Việc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

25/07/2025
Luận văn đại học thương mại pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần xuất khẩu thủy sản 2 quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Thuật ngữ “hợp đồng” (contractus) có nghĩa là ràng buộc, xuất hiện đầu tiên ở La Mã vào khoảng thế kỷ V – IV trước công nguyên. Sau khi đế quốc La Mã tan rã, các nước châu Âu đã chấp nhận dùng thuật ngữ “hợp đồng” khởi nguồn từ La Mã.

Xuất phát từ thuật ngữ “contractus”, trong tiếng Anh thuật ngữ này được gọi là “contract”, trong tiếng Pháp là “contrat”, tiếng Nga là “kontrakt”… Ở Việt Nam, trong thời kỳ phong kiến thuật ngữ này có thể gọi là “khế ước” và đến ngày nay từ “hợp đồng” đã trở nên gần gũi hơn sau quá trình phát triển của hệ thống pháp luật nước ta.[2] Về khái niệm hợp đồng, cũng có nhiều quan điểm khác nhau theo thời gian. Theo Bộ luật dân sự đầu tiên trên thế giới (Bộ luật dân sự Pháp năm 1804) thì: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc chuyển giao một vật, làm hay không làm một công việc” hoặc theo Bộ luật dân sự Liên bang Nga năm 1994: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”… Với Việt Nam, nếu như trước đây khái niệm “khế ước” còn chưa để lại nhiều dấu ấn thì sau khi cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khái niệm “hợp đồng” đã thực sự thể hiện được vị trí của nó trong đời sống xã hội. Cụ thể, Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Theo đó, có thể định nghĩa hợp đồng nói chung là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể.

Giữa hợp đồng và hoạt động mua bán hàng hóa có quan hệ mật thiết với nhau, mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, trong đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. [3] Cơ sở pháp lý của việc mua bán hàng hóa chính là hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và 2[] Theo Nguyễn Ngọc Khánh (2006), Hợp đồng: Thuật ngữ và khái niệm, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8, tr.38 3[] Theo Điều 3 Luật thương mại năm 2005 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa. Luật thương mại nước ta không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa.

Theo Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2005, hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán. Hàng hóa được hiểu là động sản cho nên hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản. Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản, có thể xem xét các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản. Theo đó hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng ưng thuận, có tính đền bù và là hợp đồng song vụ.

Về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, pháp luật quốc tế và pháp luật các nước có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm này song đều thống nhất chung một quan điểm rằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa có tính quốc tế. Một số công ước quốc tế đã định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa có tính quốc tế như sau: Điều 1 Công ước La Hay năm 1964 (Công ước về Luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình) quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hóa trong hợp đồng được dịch chuyển qua biên giới, hoặc việc ký kết hợp đồng được diễn ra ở các nước khác nhau”. Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế cũng gián tiếp định nghĩa về loại hợp đồng này khi quy định “Công ước này áp dụng đối với những hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau”[4]. Khác với Công ước La Hay năm 1964, các yếu tố như địa điểm ký kết hợp đồng, việc dịch chuyển qua biên giới đối với đối tượng của hợp đồng không được Công ước Viên năm 1980 đề cập tới.

Công ước Viên năm 1980 cho thấy tính chất quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ được xác định bởi yếu tố duy nhất là các bên giao kết hợp đồng có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau. Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thống nhất về ý chí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá có tính quốc tế mà thông qua đó, thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể đó với nhau. 4[] Căn cứ Điều 1 Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên ngoài các công ước quốc tế, hệ thống pháp luật của các quốc gia cũng tồn tại những quan điểm khác nhau về tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Theo pháp luật Pháp, việc xác định tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa được căn cứ vào tiêu chí kinh tế hoặc pháp lý.

Về tiêu chí kinh tế, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế khi nó tạo nên sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước. Về tiêu chí pháp lý, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch, nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán[5]. Còn ở Việt Nam, việc đưa ra một khái niệm cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vẫn chưa được quan tâm thích đáng; căn cứ theo Luật thương mại năm 2005 thì mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu [6]. Nghĩa là, theo quy định của Luật thương mại năm 2005, hoạt động mua bán hàng hoá được coi là mua bán hàng hoá quốc tế không phụ thuộc vào nơi cư trú, trụ sở hay quốc tịch của các bên là Việt Nam hay nước ngoài.

Luật thương mại năm 2005 lấy tiêu chí vận chuyển hàng hoá qua biên giới để xác định quan hệ mua bán hàng hoá là mua bán hàng hoá quốc tế. Tóm lại, hiện nay trên thế giới và trong khoa học pháp lý Việt Nam chưa có một định nghĩa thống nhất xác định cụ thể, trực tiếp phạm vi nội hàm của khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Việc sử dụng khái niệm này vẫn phải dựa trên căn cứ pháp lý là các nguồn luật khác nhau điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất quốc tế. Khái niệm pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thứa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình.

Theo đó, trong mối quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế tương đối phức tạp với sự ảnh hưởng từ nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đóng vai trò là hệ thống các quy tắc xử sự, điều chỉnh mối quan hệ mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài giữa các bên chủ thể tham gia ký kết hợp đồng. Pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể thúc đẩy quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế phát triển khi những quy định của nó phù hợp, phản ảnh đúng trình độ phát triển của quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế; và ngược lại có thể kìm hãm sự phát triển của mối quan hệ mua bán này khi những quy định của nó không tương thích với thực tiễn. Đối với công tác tổ chức và quản lý hoạt động thương mại quốc tế của ở mỗi quốc gia, pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa có tầm 5[] Theo Nguyễn Thị Tuyết Giang, Pháp luật áp dụng trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tr.16 6[] Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan trọng nhất định. Bởi quá trình quản lý kinh tế không thể thực hiện được nếu không dựa vào pháp luật.

Chỉ trên cơ sở hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn, kịp thời; Nhà nước mới có thể phát huy được hiệu quả chức năng của mình trong tổ chức và quản lý thương mại quốc tế. Vì những lý do đó, pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở các nước trên thế giới cũng như Việt Nam luôn cần đến sự quan tâm đúng mức trong công tác sửa đổi, bổ sung, làm mới các quy định để có sự tương thích với tình hình kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ