MỞ ĐẦU Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa nên có nguồn dược liệu rất phong phú và đa dạng. Nhân dân ta t lâu đã biết dùng cây cỏ để chữa bệnh và phòng bệnh, nhưng chủ yếu theo kinh nghiệm dân gian tùy theo t ng địa phương. Phần lớn các cây thuốc Việt Nam chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, nhất là về thành phần hóa học, tác dụng sinh học và hàm lượng các hoạt chất do đó chưa có được các cơ sở khoa học để tạo được các sản phẩm ứng dụng mới trong các lĩnh vực dược phẩm, thực phẩm và nông nghiệp. Trong số đó có cây Hương thảo (Rosmarinus officinalis L.) là một loại cây có nhiều ứng dụng trong cuộc sống.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng nó có các khả năng như chống oxi hóa, kháng viêm và chống ung thư, ức chế mạnh sự tăng trưởng tế bào trong tất cả các dòng tế bào ung thư thử nghiệm, có tác dụng hạ đường huyết, kích thích hệ thần kinh. Với mong muốn tìm hiểu về chất lượng cây Hương thảo, chúng tôi lựa chọn đề tài: ―Nghiên cứu xây dựng quy trình phân tích các hoạt chất chính trong cây Hƣơng thảo (Rosmarinus officinalis L.) bằng phƣơng pháp HPLC‖. Mục tiêu nghiên cứu: - Phân lập được một số hoạt chất chính trong cây Hương thảo dùng làm chất đối chiếu trong việc định tính, định lượng các hoạt chất đó. - Xây dựng được quy trình định lượng các hoạt chất chính trong cây Hương thảo bằng phương pháp HPLC.
- Ứng dụng xác định, đánh giá hàm lượng các hoạt chất chính trong một số mẫu Hương thảo ở các vùng khác nhau. Giới thiệu về họ Hoa môi (Lamiaceae) Họ Hoa môi (Lamiaceae) còn được gọi bằng nhiều tên khác như họ Húng, họ Bạc hà…là một họ thực vật có hoa [32]. Chúng phân bố rộng khắp trên toàn cầu nhưng tập trung chủ yếu ở Địa Trung Hải. Một số loài là cây bụi hay cây gỗ, hiếm gặp hơn là các dạng dây leo.
Chúng có lá đối xứng và xếp chồng chéo hình chữ thập hay mọc vòng, thân cây thường hình vuông, có nhiều lông tuyến, nơi giải phóng những hợp chất thơm mà ta ngửi thấy. Các loài thực vật trong họ này nói chung có hương thơm trong mọi phần của cây và nhiều loại cây thân thảo được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực và dùng làm thuốc như: Húng quế, Bạc hà (hình 1.1), Hoàng cầm (hình 1.2) Hương thảo (hình 1.3), Xô thơm, Tía tô. Bên cạnh những loài lấy lá để ăn, làm gia vị còn một số loài được trồng làm cảnh như húng chanh. Một số loài khác được trồng vì mục đích lấy hạt (chứ không phải lá) làm thực phẩm như hạt cây chia [32].
Trên thế giới, Lamiaceae có khoảng 245 chi và 7886 loài khác nhau. Ở Việt Nam có trên 40 chi và khoảng 145 loài. Chi Rosmarinus có khoảng 40 loài, chi Thymus có khoảng 350 loài và hầu hết chúng sống ở Châu Á. Có khoảng 150 loài điển hình của chi Ocimum được biết đến sinh sống ở Ấn Độ, còn ở Châu Âu có 15- 20 loài, Có hơn 100 loài thuộc chi Phlonis, 40-50 loài thuộc chi Lamuim,.
Cây Bạc hà Hình 1. Cây Hoàng cầm (Mentha arvensis) (Scutellaria baicalensis) 1. Chi Rosmarinus Rosmarinus là một chi trong họ hoa môi Lamiaceae, nhóm thực vật có hoa. Là loại cây bụi sống lâu năm có bộ lá thơm và hoa màu xanh tím.
2 c Chi Rosmarinus được tìm thấy ở vùng Địa Trung Hải, một phần ở phía nam bờ biển Châu Âu, Bắc Mĩ và phía đông Ai Cập, cũng như Cilicia. Chúng được biết đến với mục đích dùng làm thuốc, nấu nướng, mỹ phẩm và trang trí. Chúng được sử dụng t rất sớm bởi người La Mã, Hy Lạp và Ai Cập. Rosmarinus được xem là một trong những loài thực vật có ích nhất vùng Địa Trung Hải.
Có khoảng 40 loài trong chi Rosmarinus, tuy nhiên chỉ có 6 loài được chấp nhận tên: R. pallescens (Maire) Upson & Jury, R. x mendizaballii Sagredo ex Rosua, R. Mỗi loài có đặc điểm khác nhau nhưng quan trọng nhất, nhiều lợi ích nhất là R.
Loài Hƣơng thảo (R. Đặc điểm thực vật a) Cây Hương thảo b) Lá Hương thảo khô c) Thân Hương thảo khô Hình 1. Loài Hương thảo (Rosmarinus officinalis L.) Họ: Lamiaceae Chi: Rosmarinus Tên khoa học: Rosmarinus officinalis L. Tên thƣờng gọi: Cây Hương thảo, cây Dương chổi Mô tả về thực vật: Cây nhỏ cao 1- 2 m, phân nhánh và mọc thành bụi.
officinalis nhiều, hẹp, hình dải, dai, có mép gập xuống, không cuống, màu xanh sẫm và nhẵn ở trên, phủ lông rải rác màu trắng ở mặt dưới. Hoa xếp 2 - 10 ở các vòng lá, dài cỡ 1 cm, màu lam nhạt hơi có màu hoa cà với những chấm tím ở phía trong các 3 c thùy. Toàn cây có mùi rất thơm. Mùa nở hoa vào khoảng t tháng 3 đến tháng 5 [10].
Nguồn gốc phân bố R. officinalis là loài cỏ thơm ở vùng Địa Trung Hải, được trồng nhiều ở Nam Âu, Tây Á và Bắc Phi trước đây. Nó mọc hoang dại dọc theo phía bắc và phía nam bờ biển Địa Trung Hải và cũng trong khu vực tiểu vùng Himalaya. Nó được trồng t những ngày xa xưa ở nước Anh, Đức, Pháp, Trung Mỹ, Venezuela.
Tại Việt Nam, cây được nhập trồng ở một số tỉnh miền núi trung du phía Bắc, miền Trung và miền Nam.Thường trồng bằng cách giâm cành hay gieo hạt. Cây thích hợp với khí hậu khô ráo, nhiều nắng nhưng không quá nóng. Đất trồng phải thoát nước tốt. Tình hình nghiên cứu về thành phần hóa học Qua nghiên cứu, các nhà khoa học thấy rằng trong loài R.
officinalis chứa chủ yếu các thành phần là terpene, flavonoid, tinh dầu và các phenolic acid. Ngoài ra cây còn chứa các acid hữu cơ (citric, glyconic,.) Các hợp chất terpene là nhóm hợp chất tự nhiên mà phân tử của nó được cấu tạo bởi một hoặc nhiều đơn vị isoprene (C5H8) và có chung 1 gốc sinh tổng hợp. Có thể chia thành terpenoid mạch vòng và terpenoid mạch th ng. Ngoài ra dựa vào số đơn vị isoprene, người ta chia thành monoterpene (C10), sesquiterpene (C15), diterpene (C20), triterpene (C30), tetraterpene (C40).
Cấu trúc của một số loại terpene như diterpene, triterpene, phenolic diterpene,… trong loài R. officinalis đã được xác định như: 7-methoxyrosmanol (1), betulin (2) [9]; oleanolic acid (3), ursolic acid (4) [27]; carnosic acid (5), carnosol (6), 12-O-methylcarnosic acid (7) [21]; 12-methoxy-trans-carnosic acid (8), 12- methoxy-cis-carnosic acid (9) [45]; seco-hinokiol (10) [17]; 7β-methoxy-abieta- 8,13-diene-11,12-dione-(20,6β)-olide (11), 7α-methoxyabieta-8,13-diene-11, 12- dione-(20,6β)-olide (12), royleanolic acid (13), rosmanol (14), betulinic acid (15), 23-hydroxybetulinic acid (16), rofficerone (17) [39]; epirosmanol (18), methyl carnosate (19) [59]; rosmariquinone (20) [29]; rosmadial (21) [43]; isorosmanol (22), 11,12-di-O-methoxy isorosmanol (23) [42]. Cấu trúc của các chất này xem trong hình 1. Cấu trúc của một số terpene phân lập t loài R.
officinalis Các hợp chất flavonoid Flavonoid có mặt trong hầu hết các bộ phân của các loài thực vật bậc cao, đặc biệt là hoa, tạo cho hoa những màu sắc rực rỡ thu hút các loại côn trùng giúp cho sự thụ phấn của cây. Flavonoid là nhóm hợp chất phenol có cấu tạo khung theo kiểu C6-C3-C6 hay nói cách khác là khung cơ bản gồm 2 vòng benzen A và B nối với nhau qua một mạch 3 carbon, là nhóm hợp chất tự nhiên thường gặp trong dược liệu có nguồn gốc thực vật. Phần lớn chúng có màu vàng, ngoài ra còn có những chất màu xanh, tím, đỏ hoặc không màu. Các flavonoid đã được phân lập t loài R.
officinalis như: genkwanin (24), isocutellarein 7-O-glucoside (25), 6''-O-(E)-feruloylhomoplantaginin (26), 6''-O- (E)-feruloylnepitrin (27), 6''-O-(E)-p-coumaroylnepitrin (28), 6-methoxyluteolin-7- 6 c glucopyranoside (29), luteolin 3'-O-β-D-glucuronide (30), luteolin 3'-O-(3''-O- acetyl)-β-D-glucuronide (31), kaempferol (32), luteolin (33), ladanein (34), hispiduline (35), diosmethine (36), diosmine (37), sinensetine (38), homoplantaginin (39), eriocitrin (40), gallocatechin (41), hesperidin (42), acacetin (43), cirsimaritin (44) [11, 13, 15, 21, 22, 36, 44]. Cấu trúc của các chất này xem trong hình 1. Cấu trúc của một số flavonoid phân lập t loài R. officinalis Các hợp chất phenolic Bên cạnh các hợp chất terpene và flavonoid đã được phân lập, các phenolic cũng được tìm thấy trong loài R.
officinalis như: rosmanic acid (45), rosmarinic acid (46), caffeic acid (47), 1-O-(4-hydroxybenzoyl)-β-D-glucopyranose (48), 1-O- feruloyl-β-D- glucopyranose (49) [11, 21, 28]. Cấu trúc của một số phenolic phân lập t loài R. officinalis 8 c Nhƣ vậy: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã công bố cho thấy, thành phần hoá học trong loài R. officinalis rất đa dạng và phong phú, góp phần tạo cơ sở khoa học lý giải cho việc sử dụng cây này để chữa bệnh trong y học cổ truyền.
Công dụng và hoạt tính sinh học loài R. officinalis có vị chát, mùi thơm nồng, tính ấm nóng. Người ta thường dùng R. officinalis trong các trường hợp như: cơ thể suy nhược, choáng do huyết áp thấp, người mệt yếu do tuần hoàn kém, mau quên, ăn uống không tiêu, đau nhức cơ, thấp khớp, viêm họng, nhức đầu, căng th ng thần kinh, chống rụng tóc, mau mọc tóc.
Được dùng dưới các dạng: ngâm rượu (cồn thuốc), nước hãm hoặc chiết tinh dầu để xoa bóp ngoài da. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã cho thấy rằng các hợp chất trong loài R. officinalis có nhiều hoạt tính sinh học như: Hoạt tính chống oxi hóa Năm 2013, Xiaoqiang Chen cùng các cộng sự tiến hành thử nghiệm song song hoạt tính chống oxi hóa của tinh dầu R. officinalis trong dầu hướng dương được lưu giữ ở 60°C và việc sử dụng chất chống oxi hóa tổng hợp là butylat hydroxyanisol (BHA), butylat hydroxytoluene (BHT) và tert-butylhroquinon (TBHQ).
Kết quả thu được là tinh dầu R. officinalis có tính oxi hóa rất mạnh, gần bằng chất chống oxi hóa tổng hợp (BHA và BHT) [18]. Các hợp chất phenolic diterpene như carnosol (6), rosmanol (14), carnosic acid (5),.và phenolic acid như rosmarinic (46), caffeic acid (47) được phân lập t R. officinalis, trong đó carnosic acid (5) và carnosol (6) được công nhận là có hoạt tính chống oxy hóa cao nhất, chống lại các gốc tự do [54, 55].
Hoạt tính chống viêm Năm 2013, các nghiên cứu của Salvan da Rosa đã sử dụng các mô hình thí nghiệm và các thử nghiệm in vitro trên chuột. Kết quả cho thấy trong thành phần hóa học phân lập của R. officinalis thì carnosol (6) và axit rosmarinic (46) có hoạt tính kháng viêm rất mạnh trong mô mỡ do carrageenan gây ra. Bằng cách ức chế bạch cầu, bạch cầu trung tính và giảm tiết dịch dẫn đến giảm giải phóng nitricoxide (chất trung gian gây viêm tiền liệt).
Hai hợp chất này có khả năng chống viêm bằng cách ức chế phản ứng miễn dịch bẩm sinh, ngăn ng a các bệnh lý viêm và tự miễn dịch [20]. 9 c Khả năng kháng khuẩn Pinene, verbenone, bornyl acetate là thành phần tinh dầu trong R. officinalis cho thấy hoạt động kháng khuẩn, chống lại cả vi khuẩn Gram (+) (Staphylococcus aureus, S. epidermidis) và Gram (-) (Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa) [8].