CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về hóa chất diệt nấm nhóm Azole Hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) là các hóa chất hoặc chất sinh học được con người sử dụng để kiểm soát, ngăn ngừa, lây nhiễm hoặc tiêu diệt các loài gây hại như mầm bệnh thực vật, cỏ dại, côn trùng, động vật thân mềm, chim, động vật có vú, vi trùng và vi khuẩn gây thiệt hại cho cây trồng và làm giảm năng suất nông nghiệp. Ngoài ra, các loại thuốc kích thích sinh trưởng, giúp cây trồng đạt năng suất cao cũng là một dạng của HCBVTV [9]. Hiện nay, các loại hóa chất bảo vệ thực vật phổ biến nhất là thuốc trừ sâu, hóa chất diệt cỏ, hóa chất diệt mối, hóa chất diệt nấm hoặc thuốc quản lý côn trùng.
HCBVTV là những hóa chất độc hại, có khả năng phá hủy tế bào, tác động đến cơ chế sinh trưởng, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại và cả cây trồng, vì thế khi các hợp chất này đi vào môi trường, chúng cũng có những tác động nguy hiểm đến môi trường, đến những đối tượng tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp. Và đây cũng là lý do mà HCBVTV nằm trong số những hóa chất đầu tiên được kiểm tra triệt để về bản chất, về tác dụng cũng như tác hại. Hóa chất diệt nấm nhóm Azole lần đầu tiên được báo cáo vào năm 1944 và được đưa vào thị trường HCBVTV trong những năm 1958. Về mặt cấu trúc, hóa chất diệt nấm nhóm Azole là một nhóm các hợp chất dị vòng năm thành viên chứa một nguyên tử nitơ và ít nhất một nguyên tử không phải carbon khác (tức là nitơ, lưu huỳnh hoặc oxy) là một phần của vòng.
Trong lâm sàng, thuốc chống nấm Azole được chia làm 2 loại: imidazole (ketoconazole và miconazole, clotrimazole) và triazole (itraconazole và fluconazole). Phân loại hóa chất diệt nấm nhóm Azole 5 Tất cả các Azole đều hoạt động theo một cơ chế tác động chung: chúng ngăn chặn sự tổng hợp ergosterol, thành phần sterol chính của màng tế bào nấm, thông qua việc ức chế lanosterol 14-a-demethylase, enzyme phụ thuộc cytochrome P450 của nấm. Kết quả là sự suy giảm ergosterol và sự tích tụ đồng thời của tiền chất methyl hóa 14-a cản trở chức năng chính của ergosterol trong màng nấm và làm thay đổi cả tính lưu động của màng cũng như hoạt động của một số enzyme gắn màng (ví dụ chitin synthase). Hiệu quả cuối cùng là ức chế sự phát triển và nhân lên của nấm.
Ngoài ra, một số tác dụng phụ, chẳng hạn như ức chế sự chuyển đổi hình thái của nấm men sang dạng sợi nấm, giảm sự bám dính của nấm và tác dụng gây độc trực tiếp lên phospholipid màng, đã được báo cáo [14]. Ngoại trừ ketoconazol, việc sử dụng imidazole chỉ giới hạn trong điều trị bệnh nấm bề mặt, trong khi triazole có phạm vi ứng dụng rộng rãi trong điều trị cả nhiễm nấm bề mặt và nhiễm nấm toàn thân. Một ưu điểm khác của triazole là ái lực cao hơn với enzyme cytochrome P-450 của nấm hơn là của động vật có vú, điều này góp phần cải thiện tính an toàn. Hexaconazole (công thức hóa học C14H17𝐶𝑙2 N3O) là hóa chất diệt nấm triazole có hiệu quả cao thường được áp dụng ở nhiều nước khác nhau để nâng cao năng suất cây trồng.
Do thời gian bán hủy dài và khả năng hòa tan trong nước cao, loại hóa chất diệt nấm này thường được phát hiện trong môi trường, kể cả nguồn nước. Hexaconazole có độc tính cấp tính ở mức độ thấp qua đường tiếp xúc qua đường miệng, da và đường hô hấp [loại 3/4]. Nó gây kích ứng nhẹ đến vừa phải cho mắt và không gây kích ứng cho da. Công thức hóa học của Hexaconazole Hexaconazole là HCBVTV gây độc tố thần kinh, có độ độc cao, có thể làm tổn thương hệ tim mạch ở cá trong quá trình phát triển ban đầu, gây nhiễm độc gan và làm rối loạn sự phát triển ở gan của côn trùng, gây bất lợi đến các hệ sinh 6 thái.
Tuy nhiên, người ta biết rất ít về tác dụng độc hại của hexaconazole đối với sự phát triển của động vật. Tebuconazole (công thức hóa học C16H22ClN3O) là một hoạt chất phổ biến có trong một số loại hóa chất bảo vệ thực vật để kiểm soát sâu bệnh. Độc tính của tebuconazole đối với con người, động vật có vú, sinh vật dưới nước, động vật trên đất, động vật lưỡng cư, vi sinh vật đất, chim, ong mật và thực vật đã được tóm tắt và thống kê. Tebuconazole có khả năng gây độc tính phát triển, độc tính gen, độc tính sinh sản, gây đột biến, nhiễm độc gan, độc tính thần kinh, nhiễm độc tim và nhiễm độc thận, được gây ra thông qua quá trình apoptosis qua trung gian các loại oxy phản ứng, rối loạn chuyển hóa và hormone, tổn thương DNA và các bất thường về phiên mã.
Ngoài ra, tebuconazole còn thể hiện tác dụng phá vỡ nội tiết rõ ràng bằng cách điều chỉnh nồng độ hormone và phiên mã gen. Công thức hóa học của Tebuconazole Tebuconazole đã được áp dụng rộng rãi trong hơn ba thập kỷ qua vì hiệu quả cao, độc tính thấp và phổ rộng và vẫn là một trong những loại hóa chất diệt nấm phổ biến nhất trên toàn thế giới. Dư lượng Tebuconazole thường xuyên được phát hiện trong các mẫu môi trường và thực phẩm, gây nguy hiểm tiềm tàng cho con người. Hiểu được độc tính của thuốc trừ sâu là rất quan trọng để đảm bảo sức khỏe con người và hệ sinh thái, nhưng cơ chế độc hại và độc tính của tebuconazole vẫn chưa rõ ràng.
Hơn nữa, thuốc trừ sâu có thể biến đổi thành các sản phẩm biến đổi (TP) có thể bền hơn và độc hại hơn bố mẹ chúng. Thiabendazole (công thức hóa học C10H7N3): Thiabendazole (TBZ) là hóa chất diệt nấm và thuốc trừ giun sán đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt [2], thường được tìm thấy trong các sản phẩm 7 thực phẩm. Nó còn được biết đến là phụ gia thực phẩm E233 thuộc nhóm chất bảo quản [1]. Xử lý trước và sau thu hoạch trái cây và rau quả bằng TBZ có thể làm giảm nấm mốc, sâu bệnh và thối rữa cũng như giảm hư hỏng trong quá trình bảo quản và vận chuyển [3].
Được biết, nó không thể được loại bỏ khỏi trái cây một cách hiệu quả bằng cách rửa [6] và ổn định trong quá trình chế biến thực phẩm [7]. Mức dư lượng tối đa của TBZ được Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu cho phép là 10 mg/kg trong đu đủ, 7 mg/kg trong trái cây họ cam quýt và xoài, 6 mg/kg trong chuối, 4 mg/kg trong quả lựu, 3 mg/kg trong khoai lang, 0,05 mg/kg trong trà và hạt cà phê, dưới 0,02 mg/kg trong các loại trái cây và rau quả khác và dưới 2 mg/kg trong các sản phẩm có nguồn gốc động vật [8]. Công thức hóa học của Thiabendazole Thiabendazole là bột tinh thể màu trắng và ổn định ở dạng rắn và trong dung dịch. Nó có độ hòa tan thấp trong nước ở pH trung tính trong khi độ hòa tan của nó tăng lên trong axit và kiềm loãng, nhờ đó độ hòa tan tối đa của nó là ở pH 2,5 khi nó tạo thành dung dịch 1,5% [13].
Thiabendazole cũng là một tác nhân phục hồi miễn dịch, chứng tỏ khả năng miễn dịch tối đa ở vật chủ bị ức chế miễn dịch. Các nghiên cứu miễn dịch ban đầu chỉ ra rằng thuốc có hiệu quả nhất khi dùng 24 giờ trước hoặc tại thời điểm sử dụng kháng nguyên. Liều duy nhất có hiệu quả hơn nhiều liều hàng ngày [45]. Là một chất bổ trợ cho các phương thức điều trị ung thư thông thường, TBZ cần có môi trường vật chủ giống như đã thấy với nhiều thuốc tăng cường miễn dịch.
Khối u phải được giảm bằng phương pháp chính. Một lịch trình liều lượng phải được phát triển cùng với từng phương thức chính được sử dụng. Là một chất bổ trợ trong điều trị ung thư, thuốc có hiệu quả nhất khi dùng cách ngày[50]. Tùy thuộc vào phương thức chính được sử dụng, TBZ bổ trợ có thể cần điều chỉnh liều.
8 TBZ là một trong những thuốc trừ sâu được phát hiện nhiều nhất ở Châu Âu và Hoa Kỳ [4,5]. Mặc dù thực tế là TBZ có độc tính thấp với loại độc tính là 4 (ít độc nhất), Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) đã phân loại nó có khả năng gây ung thư ở liều đủ cao để gây rối loạn cân bằng hormone tuyến giáp [6,9 ]. Theo EPA, lượng tiêu thụ hàng ngày cho phép (ADI) của TBZ là 0,1 mg/kg, trong khi theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) là 0,3 mg/kg. Đối với phơi nhiễm liều đơn, mức tác động không quan sát được (NOEL) là 3,3 mg/kg mỗi ngày [10].
Do độc tính và khả năng gây ung thư tiềm tàng, việc xác định chất này trong các mẫu khác nhau rất quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng. Tricyclazole (công thức hóa học C9H7N3S): Tricyclazole thuộc nhóm triazole là một loại hóa chất diệt nấm toàn thân được sử dụng rộng rãi để kiểm soát bệnh đạo ôn và cũng để cải thiện chất lượng sản xuất lúa. Triazole nói chung có thể gây tổn thương nhiễm sắc thể và ức chế biểu hiện gen [1,2]. Tricyclazole dư lượng cao vẫn tồn tại trong đất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến các loài thủy sinh [3].
Tricyclazole là hóa chất diệt nấm được rễ hấp thụ nhanh chóng và vận chuyển qua cây, có thể dùng làm nước ngâm, ngâm rễ cây hoặc phun lên lá. Công thức hóa học của Tricyclazole Tricyclazole là một hoạt chất mới, theo Điều 7 của Quy định (EC) số 1107/2009 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu, báo cáo viên Quốc gia Thành viên (RMS) Ý đã nhận được đơn đăng ký từ Dow AgroSciences vào ngày 21 tháng 12 năm 2012 để xin phê duyệt. Tuân thủ Điều 9 của Quy định, RMS đã kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ và công nhận ngày chấp nhận đơn là ngày 4 tháng 2 năm 2013. Tác dụng phụ chính của tricyclazole được quan sát thấy là: giảm trọng lượng cơ thể và tăng trọng lượng các cơ quan khác trong gan.
Tricyclazole không gây ung thư, không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, không có độc tính 9 phát triển hoặc nhiễm độc gen liên quan đến sức khỏe con người. Cấu trúc, tính chất hóa lí của 4 hợp chất quan tâm được thể hiện trong bảng sau Bảng 1. Tính chất hóa lí của 4 hợp chất STT Hợp chất Đặc điểm 1 Hexaconazole - C14H17𝐶𝑙2 N3O - KLPT:314.2 g/mol - Độ nóng chảy: 111℃ - Độ sôi: 490,3℃ - Log Kow: 3,7 2 Tebuconazole - C16H22ClN3O - KLPT:307.82 g/mol - Độ nóng chảy: 105℃ - Độ sôi: 476,9℃ - Log Kow: 3,7 3 Thiabendazole - C10H7N3 - KLPT: 201.