MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có vị trí địa lý với địa hình phức tạp và nhiều vùng sinh thái khác nhau, nên hệ Thực vật rất đa dạng và phong phú. Từ cuối thế kỷ 18 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về phân loại thực vật ở nước ta, trong đó có những kết quả nghiên cứu mới, góp phần làm cơ sở khoa học cần thiết cho một số lĩnh vực liên quan như bảo tồn đa dạng sinh học, sinh thái, nông lâm nghiệp, y dược,… và quản lý như quy hoạch, xây dựng phát triển kinh tế,… Nhiều nước trên thế giới đã có những công trình phân loại thực vật đầy đủ và hệ thống là bộ Thực vật chí quốc gia. Đây là một tài liệu cập nhật đầy đủ nhất về mẫu vật và các thông tin mới có liên quan, sử dụng cả các phương pháp phân loại hiện đại về thực vật của đất nước,… Nước ta cũng đã công bố được 21 tập Thực vật chí Việt Nam (2000-2017) bao gồm 3639 loài, 665 chi thuộc 57 họ.
Đây là những thành tựu khoa học cơ bản rất có ý nghĩa và giá trị trong phát triển kinh tế, xã hội với đất nước. Trong hệ Thực vật Việt Nam, họ Xoài (Anacardiaceae) không nhiều loài, nhưng có nhiều giá trị sử dụng và kinh tế cao (lấy gỗ, cho quả hạt để ăn, làm thuốc, nhựa mủ làm sơn, dầu béo,…). Thời gian qua đã có một số công trình về phân loại họ Xoài, tuy nhiên còn những hạn chế nhất định, do chưa cập nhật kịp thời các thông tin, thiếu mẫu vật, chưa đầy đủ và hệ thống. Vì vậy đề tài luận án “Nghiên cứu phân loại họ Xoài (Anacardiaceae R.) ở Việt Nam” là một công trình có nội dung đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của việc biên soạn họ Xoài trong bộ Thực vật chí Việt Nam và đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của đất nước.
Mục đích của đề tài luận án Hoàn thành nghiên cứu phân loại họ Xoài (Anacardiaceae) ở Việt Nam một cách đầy đủ và hệ thống, dựa trên những bằng chứng về hình thái và sinh học phân tử, làm cơ sở khoa học biên soạn Thực vật chí họ Xoài ở Việt Nam. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án - Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án bổ sung và hoàn chỉnh công trình khoa học phân loại họ Xoài (Anacardiaceae) ở Việt Nam và thế giới, đóng góp tư liệu biên soạn Thực vật chí Việt Nam và các chuyên ngành khác liên quan. 2 - Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở khoa học cho một số chuyên ngành liên quan ứng dụng và quản lý, sản xuất trong các dự án như nông lâm nghiệp, y dược học, tài nguyên thực vật, đa dạng sinh học,. đồng thời phục vụ công tác đào tạo.
Bố cục của luận án Luận án gồm 150 trang, 9 bảng, 80 hình, 128 ảnh (123 loài), 32 sơ đồ phân bố. Các phần có: Mở đầu (2 trang); Chương 1. Tổng quan tài liệu (31 trang); Chương 2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu (7 trang); Chương 3.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận (108 trang); Kết luận và kiến nghị, điểm mới luận án (2 trang); Danh mục các bảng (9 bảng); Danh mục hình (80 hình); Danh mục ảnh (123 ảnh); Danh mục sơ đồ (32 sơ đồ); Danh mục chữ viết tắt (1 trang); Danh mục chữ viết tắt các phòng tiêu bản (2 trang); Danh mục các công trình công bố của tác giả liên quan đến luận án (6 công trình); Tài liệu tham khảo (121 tài liệu); Bảng tra cứu tên khoa học; Bảng tra cứu tên Việt Nam; Phụ lục 1: Ảnh màu các đặc điểm hình thái và các loài họ Xoài (Anacardiaceae) ở Việt Nam (45 ảnh); Phụ lục 2. Ảnh mẫu chuẩn các loài họ Xoài (Anacardiaceae) ở Việt Nam (45 ảnh); Phụ lục 3: Ảnh mẫu nghiên cứu các loài họ Xoài (Anacardiaceae) ở Việt Nam (39 ảnh); Phụ lục 4: Sơ đồ phân bố các loài thuộc họ Xoài (Anacardiaceae) ở Việt Nam (32 sơ đồ); Phụ lục 5: Danh sách các loài họ Xoài (Anacardiaceae) ở Việt Nam giải mã trình tự gen và dữ liệu trình tự gen (ITS) (17 trang). 3 CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vị trí phân loại của họ Xoài (Anacardiaceae) trong hệ thống phân loại ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Về vị trí phân loại của họ Xoài (Anacardiaceae), hiện nay các hệ thống phân loại thực vật có hoa trên thế giới tồn tại một số quan điểm sau: Thứ nhất: Anacardiaceae là một họ độc lập hay gồm cả họ Burseraceae.
Hầu hết các quan điểm đều công nhận Anacardiaceae là một họ độc lập dựa trên các bằng chứng hình thái và sinh học phân tử (Takhtajan, 1996) [1]. Thứ hai: Vị trí của họ Anacardiaceae trong lớp Hai lá mầm – Ngọc lan (Dicotyledoneae - Magnoliopsida). Đến nay có 02 quan điểm sắp xếp, đó là xếp họ Anacardiaceae vào bộ Rutales (Takhtajan 1973, 1980, 2009 [2, 3, 4], Thorne, 1983 [5]) hay bộ Sapindales (Menchior, 1964 [6]; Cronquist, 1981 [7]; Heywood, 1996 [8]; S. Từ đó đến nay quan điểm xếp Anacardiaceae thuộc Sapindales được hầu hết các nhà phân loại nghiên cứu họ Anacardiaceae đồng tình như Hutchinson (1959, 1969) [10, 11], Tardieu-Blot (1962) [12], Menchior (1964) [6], Ding Hou (1974- 1978) [13], Cronquist (1981) [7], Takhtajan (1996) [1], Ming (1980) [14], Heywood (1996) [8], Ming & Anders Barford (1999) [15], Judl.1: Một số quan điểm về vị trí họ Anacardiaceae trong hệ thống phân loại trên thế giới Hệ thống Ngành Lớp Phân lớp Liên Bộ Bộ Họ Hutchinson (1959, 1969), Angiospermae Dicotyledoneae Sapindales Anacardiaceae Menchior (1964) Takhtajan (1966) Magnoliophyta Magnoliopsida Sapindales Anacardiaceae Schubert - Wagner (1967) Angiospermae Dicotyledoneae Archichlamydeae Sapindales Anacardiaceae Takhtajan (1973, 1980) Magnoliophyta Magnoliopsida Rosidae Rutales Anacardiaceae Cronquist (1981), Magnoliophyta Dicotyledoneae Rosidae Sapindales Anacardiaceae Heywood (1996) Thorne (1983) Angiospermae Dicotyledoneae Rutiflorae Rutales Anacardiaceae Takhtajan (1996) Magnoliophyta Magnoliopsida Dilleniidae Burserales Anacardiaceae Judd & al.
(2002) Angiospermae Sapindales Anacardiaceae Bremer & al. (2003) Angiospermae Eudicots Rosids Eurosids 2 Sapindales Anacardiaceae Bresinsky (2008) Angiospermae Eudicotyledonae Sapindales Anacardiaceae Takhtajan (2009) Magnoliophyta Magnoliopsida Rosidae Rutanae Rutales Anacardiaceae 5 Pell & al. (2011) Angiospermae Dicotyledoneae Eudicotyledoneae Sapindales Anacardiaceae Bremer & al. (2009), Angiosperms Eudicots Rosids Malvids Sapindales Anacardiaceae Theodor & al.
(2016) 6 Hutchinson (1959, 1969) [10,11] trong công trình “The families of Flowering Plants” đã xếp họ Anacardiaceae cùng với 8 họ khác trong bộ Sapindales. Tác giả đã mô tả đặc điểm hình thái của họ và thống kê các chi. Họ Anacardiaceae được phân biệt với các họ Sapindaceae, Podoaceae, Sabiaceae,. bởi đặc điểm hình thái bộ nhị.
Trong hệ thống học ngành Thực vật hạt kín – Ngọc lan (Magnoliophyta), Takhtajan (1966) cho rằng họ Anacardiaceae có vị trí ở dòng xuất phát từ bộ Magnoliales tách thành 2 hướng: Rutales và Sapindales trong đó có Anacardiaceae (dẫn theo T. Schubert - Wagner (1967) chia thực vật thành 2 giới với 17 ngành. Ngành Angiospermae có 2 lớp (Dicotyledoneae và Monocotyledoneae). Dicotyledoneae chia 2 phân lớp (Archichlamydeae và Sympetalae); Archichlamydeae có 40 bộ, Anacardiaceae được xếp trong bộ Sapindales (10 họ) (T.
Takhtajan (1973) đã xếp họ Anacardiaceae nằm trong bộ Rutales (cùng 3 họ Simaroubaceae, Rutaceae và Meliaceae), lớp Magnoliopsida, ngành Magnoliophyta. Họ này có khoảng 100 chi với 1200 loài, phân bố chủ yếu vùng nhiệt đới (dẫn theo N. Cây phát sinh thể hiện bộ Rutales cùng 18 bộ nằm trong phân lớp Rosidae xuất phát từ nhánh (bộ) Magnoliales lên nhánh Saxifragales Rutales (dẫn theo T. Takhtajan (1980) đặt họ Anacardiaceae trong bộ Rutales nằm trong phân lớp Rosidae.
Theo sơ đồ cây phát sinh, phân lớp Rosidae được xuất phát từ phân lớp Magnoliidae và trên nó là phân lớp Asteridae với vị trí cao nhất (dẫn theo H. (2002) [16] trong công trình “Plant Systematics” đã xếp họ Anacardiaceae là một trong 6 họ của bộ Sapindales, có mối quan hệ thân thuộc với họ Burseraceae. 7 Hệ thống phân loại ngành Hạt kín (Angiospermae) của Bresinsky (2008) không chia thành 2 lớp (Dicotyledonae và Monocotyledonae) mà chia thành 3 nhóm: - I là nhóm gốc (ở gốc cây phát sinh) (gồm 9 bộ). - II là nhóm Một lá mầm (Monocotyledonae) (gồm 11 bộ).
- III là nhóm Hai lá mầm (Eudicotyledonae) (gồm 37 bộ). Nhóm này được chia thành một số nhóm nhỏ như nhóm gốc (gồm 6 bộ); nhóm Hai lá mầm cơ bản (Kerneudikotyledonae) (gồm 31 bộ), trong đó họ Anacardiaceae nằm ở bộ Sapindales (số 48) của nhóm này với 70 chi, 985 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, và một số đại diện ở vùng ôn đới (dẫn theo T. (2003) [17] trong công trình “An update of the Angiosperm Phylogeny Group Classification for the orders and families of Flowering Plants” (APG II) đã đặt họ Anacardiaceae vào bộ Sapindales, thuộc nhóm Eurosids 2 cùng với 2 bộ khác. Tất cả xuất phát từ Rosids, theo sơ đồ: Angiosperms Eudicots Core Eudicots Rosids (10 bộ ) Eurosids 1 (7 bộ) Eurosids 2 (3 bộ, có Sapindales) Trong APG III (2009) Bremer & al.
(2009) [18] đặt họ Anacardiaceae (và 8 họ khác) vào bộ Sapindales, thuộc nhóm Malvids cùng với 7 bộ khác. Tất cả xuất phát từ Rosids theo sơ đồ sau: Angiospemus Eudicots core Eudicots Rosids Malvids (gồm Sapindales + 7 bộ khác). và Anacardiaceae nằm trong bộ Sapindales. Takhtajan (2009) [4] đã đặt họ Anacardiaceae cùng 12 họ khác vào bộ Rutales thuộc liên bộ Rutanae, phân lớp Rosidae, lớp Magnoliopsida (có 6 phân lớp), ngành Magnoliophyta.
(2011) [9] (trong Kubitzki “The families and Genera of Vascular Plants”) đã xếp họ Anacardiaceae cùng Burseraceae trong quan hệ thân thuộc cùng 8 với 9 họ khác như Sapindaceae, Simaroubaceae, Meliaceae,.nằm trong bộ Sapindales. (2019) [24] đã xây dựng cây phát sinh chủng loại của ngành thực vật Hạt kín (Angiospermae) trên cơ sở phân tích đặc điểm hình thái và sinh học phân tử. Theo đó họ Anacardiaceae và 8 họ khác được sắp xếp trong bộ Sapindales, nhánh Malvids (với 8 bộ), Rosids, Superrosids, Pentapetalae, Core Eudicots, Eudicots của Elarly Angiospermae. Hệ thống này bao gồm 64 bộ với 420 họ được APG IV công nhận.
Tình hình nghiên cứu các hệ thống phân loại họ Xoài (Anacardiaceae) trên thế giới và khu vực lân cận với Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu các hệ thống phân loại họ Xoài (Anacardiaceae) trên thế giới - Các tác giả chia họ Anacardiaceae trực tiếp đến chi (gen. Từ thế kỉ 18, Linnaeus (1753) [25], người được coi là ông tổ của ngành phân loại thực vật, đã mô tả và đặt tên cho 3 chi và 14 loài, sau này chúng được xếp vào họ Anacardiaceae: Mangifera (1 loài), Rhus (12 loài) và Anacardium (1 loài). Mangifera và Rhus được xếp vào nhóm 5 nhị, nhưng Mangifera có 1 nhụy và Rhus có 3 nhụy.
Anacardium được xếp vào nhóm 10 nhị và 1 nhụy. Năm 1756, Browne [26] đặt tên chi Comocladia P. Năm 1760, Jacquin [27] cũng mô tả chi Astronium Jacq. Năm 1771 Linneaus [28] đặt tên chi Pistacia L.
(1 loài) và một số các tác giả khác đặt tên cho các chi mà sau này được xếp vào họ Anacardiaceae.