CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát tình hình nghiên cứu bò sát trên thế giới và ở Việt Nam Tính đến tháng 10/2023, có tổng số 12,060 loài bò sát trên Thế giới được ghi nhận [85]. Chúng được chia thành bốn bộ: bộ Rùa (Testudines) (361 loài); bộ Cá sấu (Crocodylia) (27 loài); bộ Có vảy (Squamata): bộ phụ Thằn lằn (Sauria) (7396 loài), bộ phụ Rắn (Serpentes) (4073 loài), bộ phụ Amphisbaenia (Amphisbaenia) (202 loài); bộ Thằn lằn đầu mỏ (Rhynchocephalia) (1 loài) [85]. So với năm 2013, trong vòng 10 năm đã có tới 2294 loài mới đã được phát hiện và mô tả [85].
Khu vực Đông Dương nằm trong vùng Indo–Burma, là một trong 36 điểm nóng trên thế giới về đa dạng sinh học, là vùng được đặc trưng bởi sự đa dạng và tính đặc hữu của loài [43]. So với những khu vực có diện tích tương tự thì loài bò sát ở Đông Dương khá đa dạng với 1344 loài Bò sát, trong đó Việt Nam ghi nhận số lượng lớn nhất là 573 loài, Cam– pu–chia ghi nhận có 212 loài và Lào ghi nhận có 247 loài [85]. Theo Alder 2009, những công trình nghiên cứu bò sát liên quan đến Việt Nam được tiến hành khá sớm từ đầu thế kỉ 19 [1]. Cuốn sách “Nam Dược Thần Hiệu” được viết bởi Tuệ Tĩnh, là cuốn sách đầu tiên nhắc tới các loài lưỡng cư – bò sát ở Việt Nam với 16 loài lưỡng cư và bò sát liên quan tới chức năng dùng làm dược liệu [53].
Năm 1875, cuốn sách đầu tiên tổng hợp các loài bò sát ở Việt Nam được công bố bởi nhà vật lý và khoa học tự nhiên người Pháp Albert Morice (1848 – 1877) [41]. Cuốn sách mang tên “Coup d’Oeil sur la Faune de la Cochinchine Francaise” là kết quả thống kê từ các khảo sát từ năm 1873 – 1877 với 114 loài bao gồm cả các loài sinh vật biển (2 loài cá sấu, 30 loài thằn lằn, 66 loài rắn, 16 loài rùa) [41]. Trong giai đoạn thế kỉ 20, rất nhiều nghiên cứu quan trọng về Bò sát đã được thực hiện tại Việt Nam. Năm 1907, Francois Mocquard công bố cuốn sách có tên “Les Reptile de l’Indo–Chine” tổng hợp tất cả các nghiên cứu về bò sát trước đó ở Việt Nam [41].
Trong cùng năm này, 3 loài mới cũng được mô tả ở phía bắc [53]. Vào các năm từ 1920 – 1935, Fernand Angel (1881 – 1950) và một số thành viên của Bảo tàng lịch sử tự nhiên Pari công bố 9 bài báo trong đó mô tả một số loài bò sát mới ở Việt Nam [92]. Năm 1920 – 1943, nhà vật lý và khoa học tự nhiên nghiệp dư người Anh Malcom A. Sau những năm 1930, nhà địa lý học người Pháp René Bourret đã viết và xuất bản với số lượng lớn bài báo và sách về bò sát ở Việt Nam mà cho đến ngày nay những bài báo và các cuốn sách này vẫn là những tài liệu quan trọng trong việc nghiên cứu bò sát ở Việt Nam cũng như các nước trong khu vực Đông Dương.
Trong số loạt sách của ông, phải kể đến hai cuốn sách chuyên khảo về các loài bò sát ở khu vực Đông Dương là: “Les Serpents de l’Indochine”, gồm hai tập, xuất bản năm 1936 về các loài rắn và cuốn sách cùng tên xuất bản năm 1941 về các loài rùa [13]. Từ 1977 – 1982, Đào Văn Tiến tổng hợp danh sách các loài bò sát ở Việt Nam và cuốn sách này đưa ra khóa định loại đầu tiên cho các loài bò sát của cả nước với tổng số 276 loài bò sát bao gồm cả các loài sinh vật biển (trong đó có 2 loài cá sấu, 77 loài thằn lằn, 165 loài rắn và 32 loài rùa) [14]. Vào năm 1996, các tác giả Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã xuất bản một danh sách sửa đổi cho các loài bò sát ở Việt Nam với 258 loài bò sát [58]. Năm 2005, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường công bố cuốn sách đầu tiên bao gồm cả ảnh màu minh họa cho các loài bò sát ở Việt Nam với tiêu đề “Danh lục Ếch Nhái và Bò Sát Việt Nam” với 296 loài bò sát [57].
Vào năm 2009, nhóm tác giả công bố cuốn sách “Herpetofauna of Vietnam” với rất nhiều ghi nhận mới và ghi chú về vùng phân bố cùng với ảnh màu cho hầu hết các loài bò sát ở Việt Nam [41]. Cho đến nay, đây vẫn là tài liệu có giá trị cao và được trích dẫn 4 nhiều nhất trong tất cả các tài liệu liên quan đến nghiên cứu bò sát ở Việt Nam [53]. Theo Nguyễn Văn Sáng và cs (2009), giữa thế kỉ 19 cho đến năm 2009, hầu hết các nghiên cứu ở Việt Nam tập trung vào hai hướng nghiên cứu chính: (1) phát hiện và mô tả các các loài lưỡng cư, bò sát mới ở Việt Nam dựa trên các điều tra thực địa trên toàn đất nước, (2) nghiên cứu về sinh thái học của một số loài chính, phổ biến, bị đe dọa hoặc là những loài đặc hữu, có giá trị bảo tồn cao [41]. Những nghiên cứu tiếp theo về bò sát ở Việt Nam có sự hợp tác của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước [7, 21, 25].
Các công trình nghiên cứu này mở rộng các khu vực địa lý và mô tả rất nhiều loài mới cũng như tập trung nghiên cứu sâu về hình thái, sinh thái và địa sinh học. Ví dụ như nghiên cứu của Bain và Hurley 2011 đã tổng hợp lại những nghiên cứu trước đó về lưỡng cư – bò sát ở Đông Dương và đưa ra những đánh giá ban đầu về địa lý động vật ở khu vực này [7]. Tổng quan về giống Thằn lằn ngón Cyrtodactylus ở trên thế giới và ở Việt Nam Thằn lằn ngón – giống Cyrtodactylus là nhóm có mức độ đa dạng cao nhất trong họ Tắc kè (Gekkonidae) với 354 loài đã được mô tả trên toàn thế giới (tính đến tháng 10 2023) [85]. Nhóm này có phân bố rộng từ Đông Nam Á, Đông Dương, Philippin, quần đảo Indo – Australia cho tới đảo Solomon [9, 54, 55].
Trong 5 năm trở lại đây, có tới 83 loài mới được phát hiện trên thế giới, và Việt Nam được coi là một trong những trung tâm có nhiều loài mới được phát hiện nhất [85]. Cho tới năm 1997, chỉ có bốn loài thuộc giống Thằn lằn ngón Cyrtodactylus được ghi nhận trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm Thằn lằn chân ngón côn đảo C. condorensis [73], Thằn lằn chân ngón trung gian C. intermedius [72], Thằn lằn chân ngón vằn lưng C.
irregularis [73] và Thằn lằn chân ngón C. Năm 2003, Ziegler và cs đã mô tả thêm loài mới Thằn lằn chân ngón phong nha kẻ bàng (C. phongnhakebangensis) với mẫu chuẩn thu tại Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Quảng Bình [90]. 5 Trong ba năm 2006, 2007, 2008, có tới 12 loài mới được phát hiện và mô tả với bộ mẫu chuẩn thu tại Việt Nam, bao gồm: Thằn lằn chân ngón mắt đen (C.
nigriocularis) [50]; Thằn lằn chân ngón bà đen (C. badenensis) [50]; Thằn lằn chân ngón cao văn sung (C. caovansungi) [59]; Thằn lằn chân ngón châu quang (C. chauquangensis) [28]; Thằn lằn chân ngón ẩn (C.
cryptus) [27]; Thằn lằn chân ngón ai–xen–man (C. eisenmanae) [78]; Thằn lằn chân ngón (C. grismeri) [78]; Thằn lằn chân ngón hòn tre (C. hontreensis) [80]; Thằn lằn chân ngón huỳnh (C.
huynhi) [79]; Thằn lằn chân ngón giả bốn vạch (C. pseudoquadrivirgatus) [66]; Thằn lằn chân ngón tà kóu (C. takouensis) [79]; Thằn lằn chân ngón ziegler (C. Trong vòng 10 năm từ năm 2008 cho tới 2018, hàng loạt các cuộc khảo sát được thực hiện tại các khu vực có tiềm năng phân bố của các loài thuộc giống thằn lằn ngón ở Việt Nam.
Trong thời gian này có tới 24 loài mới được mô tả và ghi nhận, trong đó có: Thằn lằn chân ngón cát tiên (C. cattienensis) [21]; Thằn lằn chân ngón bích ngân (C. bichnganae) [75]; Thằn lằn chân ngón phú quốc (C. phuquocensis) [81]; Thằn lằn chân ngón (C.
roesleri) [90]; Thằn lằn chân ngón yang bay (C. yangbayensis) [84]; Thằn lằn chân ngón cúc phương (C. cucphuongensis) [83]; Thằn lằn chân ngón hương sơn (C. huongsonensis) [39]; Thằn lằn chân ngón martin (C.
martini) [77]; Thằn lằn chân ngón bi đúp (C. bidoupimontis) [44]; Thằn lằn chân ngón bù gia mập (C. bugiamapensis) [44]; Thằn lằn chân ngón thổ chu (C. thochuensis) [48]; Thằn lằn chân ngón hoàng đức đạt (C.
dati) [76]; Thằn lằn chân ngón king sa da (C. kingsadai) [91]; Thằn lằn chân ngón phước bình (C. phuocbinhensis) [51]; Thằn lằn chân ngón tây nguyên (C. taynguyenensis) [51]; Thằn lằn chân ngón cực đông (C.
cucdongensis) [69]; Thằn lằn chân ngón pù hu (C. puhuensis) [52]; Thằn lằn chân ngón thương (C. thuongae) [65]; Thằn lằn chân ngón bô–b–rốp (C. bobrovi) [55]; Thằn lằn chân ngón ô ta (C.
otai) [55]; Thằn lằn chân ngón sơn (C. soni) [34]; Thằn lằn chân ngón gia lai (C. gialaiensis) [38]; Thằn lằn chân ngón sơn la (C. sonlaensis) [56]; Thằn lằn chân ngón sang (C.
Từ năm 2019 cho tới nay, có thêm tất cả là 11 loài mới thuộc giống thằn lằn 6 ngón ở Việt Nam đã được mô tả, trong đó có: Thằn lằn chân ngón bảy núi (C. septimontium) [42], Thằn lằn chân ngón tây bắc (C. taybacensis) [64], Thằn lằn chân ngón cù lao chàm (C. culaochamensis) [82], Thằn lằn chân ngón phù mỹ (C.
phumyensis) [60], Thằn lằn chân ngón chứng (C. chungi) được phát hiện tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu tỉnh Bình Thuận [61], Thằn lằn chân ngón ngật (C. ngati) [35], Thằn lằn chân ngón orlov (C. orlovi) [17], Thằn lằn chân ngón raglai (C.
raglai) [49], Thằn lằn chân ngón arnd (C. arndti) [47], Thằn lằn chân ngón chư mư (C. chumuensis) [47], và Thằn lằn chân ngón tây hoà (C. Tính đến tháng 10 năm 2023, tổng cộng có tới 52 loài thuộc giống Cyrtodactylus đã được mô tả ở Việt Nam.
Về sinh cảnh sống: Các loài thuộc giống thằn lằn ngón ở Việt Nam có thể thích nghi với nhiều loại sinh cảnh khác nhau, như thảm thực vật cây bụi ven biển xen lẫn với đá cuội đá granit (C. kingsadai), trên đá granit, môi trường sống xung quanh là rừng thứ sinh hỗn giao của cây bụi gai nhỏ (C. roesleri), rừng thường xanh (C. yangbayensis), rừng nhiệt đới gió mùa (C.
bugiamapensis), trên cây cà phê (C. gialaiensis) và môi trường trong hang đá (C. Các loài thằn lằn ngón ở Việt Nam được tìm thấy ở nhiều độ cao khác nhau kéo dài từ 5m (C. cucdongensis) cho tới 1700m (C.
bidoupimontis) so với mực nước biển [85].