MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Do địa hình nằm ở sườn đông của dãy núi Hi-ma-lay-a và kết hợp với nền khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, Việt Nam được đánh giá là một trong những trung tâm đa dạng sinh học bậc nhất của khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, nghiên cứu về đa dạng sinh học, thành phần loài, phân bố và đặc điểm sinh học của sinh vật ở Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống và nhiều vấn đề chưa được giải quyết, đặc biệt là côn trùng, trong đó có ong mật. Ong mật thuộc liên họ Apoidea có vai trò thụ phấn hiệu quả nhất trong nhóm côn trùng cánh màng, do đó chúng nhận được sự quan tâm rất lớn từ các nhà khoa học trên thế giới ngay từ những năm đầu thế kỷ 17 [2].
Tính đến nay đã phát hiện hơn 20000 loài ong mật thuộc bảy họ phân bố trên toàn thế giới. Bên cạnh những taxon đa dạng về thành phần loài như giống Lasioglossum (hơn 1800 loài), Megachile (khoảng 1500 loài), tồn tại những taxon chỉ gồm một đến vài loài và phạm vi phân bố tương đối hẹp, chẳng hạn như nhóm ong không ngòi đốt thuộc tộc Meliponini, giống Elaphropoda, Euaspis, Thrinchostoma, … [2]. Những thông tin về phân loại cũng như sự phân bố của chúng cũng khá hạn chế. Ong không ngòi đốt (hay ong dú) là nhóm côn trùng xã hội nhỏ nhất sản xuất mật, thuộc họ Ong mật Apidae, phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới [2, 3].
Thế giới hiện đã tìm thấy hơn 500 loài thuộc 40 giống của nhóm này, trong đó các giống có số lượng loài dao động trong khoảng vài chục loài, thậm chí có những giống mới tìm thấy một loài như Pariotrigona, Meliponula,. Ở Việt Nam, ước tính khoảng 16 loài ong không ngòi đốt thuộc bốn giống đã được phát hiện, gồm Homotrigona, Lepidotrigona, Lisotrigona và Tetragonula. Sản phẩm (mật ong, phấn hoa và keo ong) được tạo ra từ nhóm ong này có nhiều công dụng. Mật của ong không ngòi đốt có vị ngọt thanh hoặc hơi chua, đặc biệt có nhiều tác dụng trong y học như thanh nhiệt, giải độc, giảm đau, sát trùng vết thương,.
do đó giá thành khá cao, gấp khoảng năm đến sáu lần so với mật ong Apis cerana. Phấn hoa có vai trò chống thiếu máu, giảm căng thẳng, trẻ hóa làn da, một số các hợp chất được tách chiết từ keo ong có tiềm năng trong chữa các bệnh ung thư. Hiện nay, ong không ngòi đốt đang được thuần dưỡng ở một số địa phương. Chúng lấy nguồn mật và phấn hoa từ tự nhiên nên sẽ phản ánh thực trạng điều kiện môi trường nơi chúng sinh sống.
Trong khi đó, việc sử dụng, khai thác và chế biến không hợp lý các nguồn tài nguyên và sự phát triển mạnh mẽ của nhiều khối công nghiệp đang gây ra không ít những tác hại cho môi trường. Cụ thể là nhiều nguồn nước bị ô nhiễm nặng, hàm lượng CO2 tăng nhanh trong không khí, các chất tàn dư, mảnh vụn thừa từ các xí nghiệp và giao thông, đặc 2 biệt là các kim loại nặng như Asen (As), Cadium (Cd), Chì (Pb), Thiếc (Sn), thậm chí là Thuỷ ngân (Hg) đang được tích tụ dần trong lòng đất [4, 5, 6]. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loài thực vật có hoa. Việc nuôi ong ở những khu vực bị ô nhiễm kim loại nặng có thể ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của chúng.
Sử dụng các sản phẩm có nhiễm kim loại với hàm lượng đủ lớn sẽ gây ngộ độc, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người tiêu dùng [7]. Đặc biệt, As, Cd, Pb, Sn và Hg là năm kim loại nặng được đánh giá có độc tính rất cao. As là chất gây ung thư, Cd làm thoái hóa xương và Pb, Sn, Hg làm tổn thương hệ thống thần kinh trung ương [8]. Mặt khác, các kim loại nặng này có khả năng kết hợp với lưu huỳnh tạo ra chất gây ức chế hoạt động của các enzym liên quan, gây ra việc rối loạn chuyển hóa trong cơ thể và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, trường hợp nặng có thể gây tử vong [9].
Tuy nhiên, ở Việt Nam, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đặc điểm sinh học, sinh thái của ong không ngòi đốt bao gồm cấu trúc tổ, hình thái phát triển của các pha hay hàm lượng các kim loại nặng trong các sản phẩm được tạo ra bởi chúng phục vụ quá trình thuần dưỡng và phát triển đàn ong. Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi tiến hành chọn đề tài: “Nghiên cứu phân loại những taxon ít dẫn liệu thuộc liên họ Apoidea (Hymenoptera), một số đặc điểm sinh học và sinh thái của ong không ngòi đốt ở Việt Nam”. Giải thích từ ngữ Taxon ít dẫn liệu là bậc phân loại ít được nghiên cứu về mặt phân loại, sinh học và sinh thái. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được thành phần loài và sự phân bố của những taxon ít dẫn liệu thuộc liên họ Apoidea, đồng thời cung cấp một số đặc điểm sinh học và sinh thái của của ong không ngòi đốt ở Việt Nam.
Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Nghiên cứu phân loại và sự phân bố của những taxon ít dẫn liệu thuộc liên họ Apoidea ở Việt Nam; Nội dung 2: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sinh thái của ong không ngòi đốt ở Việt Nam. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 5. Ý nghĩa khoa học Nghiên cứu cung cấp những dữ liệu khoa học về phân loại và sự phân bố của những taxon ít dẫn liệu thuộc liên họ Apoidea cũng như đặc điểm sinh học và sinh thái của ong không ngòi đốt ở Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn Việc phát hiện những taxon ít dẫn liệu thuộc liên họ Apoidea, đặc biệt là những taxon mới và ghi nhận mới cho thấy sự đa dạng cao về thành phần loài của khu hệ Ong mật Việt Nam.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu sự phân bố của những taxon này đã cung cấp cho các nhà quản lý trong lĩnh vực bảo tồn những thông tin cơ bản về sinh cảnh phân bố, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch bảo tồn, đặc biệt là những taxon có giá trị về khoa học và kinh tế. Ngoài ra, một số đặc điểm sinh học và sinh thái của ong không ngòi đốt ở Việt Nam được đưa ra trong nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thuần dưỡng, nhân nuôi và phát triển đàn ong, từ đó tạo ra các sản phẩm mang lại giá trị kinh tế cao, giúp cải thiện đời sống cho người dân địa phương. Đóng góp mới của đề tài - Lần đầu tiên đã xác định được danh sách thành phần loài của những taxon ít dẫn liệu thuộc liên họ Apoidea và sự phân bố của chúng trên bản đồ Việt Nam, trong phát hiện phân tộc mới, giống mới, các loài mới cho khoa học và các loài ghi nhận mới cho khu hệ Ong mật Việt Nam. - Cung cấp dẫn liệu mới về đặc điểm sinh học của ong không ngòi đốt bao gồm cấu trúc tổ, đặc biệt lần đầu tiên đưa ra hình thái phát triển của các pha loài ong không ngòi đốt Lepidotrigona flavibasis.
Bổ sung các dẫn liệu mới về một số các đặc điểm sinh thái về loài ong này như mối quan hệ giữa điều kiện nhiệt độ, độ ẩm và hoạt động bay, đồng thời đưa ra hàm lượng năm kim loại nặng trong các sản phẩm của chúng (mật ong và phấn hoa). TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu những taxon ít dẫn liệu thuộc liên họ Apoidea trên thế giới 1. Tình hình nghiên cứu phân loại những taxon ít dẫn liệu thuộc liên họ Apoidea Ong mật là một trong những nhóm đa dạng bậc nhất thuộc nhóm côn trùng cánh màng.
Cho tới nay, khoảng 20000 loài thuộc bảy họ (Andrenidae, Apidae, Colletidae, Halictidae, Megachilidae, Melittidae và Stenotritidae) đã được phát hiện ở khắp các miền địa động vật trên thế giới [2, 3]. Trong khuôn khổ luận án này, các giống ít dẫn liệu thuộc bốn họ Apidae, Halictidae, Megachilidae, Melittidae và đã từng được ghi nhận ở miền Đông Phương được tập trung nghiên cứu. Họ Apidae Họ Apidae gồm khoảng hơn 5000 loài đã được mô tả thuộc ba phân họ Apinae, Nomaninae và Xylocopinae [2]. Trong đó, các tộc của hai phân họ Nomaninae và Xylocopinae bao gồm các giống có số lượng loài rất lớn, một số giống có số lượng loài ít nhưng không tìm thấy ở miền Đông Phương.
* Phân họ Apinae Tộc Anthophorini Nghiên cứu của Engel (2018) về tộc Anthophonini trên thế giới đã ghi nhận ba giống Habropoda, Elaphropoda và Varthemapistra với số lượng loài dao động trong khoảng 1-55 loài. Trong đó, cả ba giống này đều xuất hiện ở miền Đông Phương [10]. Giống Habropoda được Smith (1854) mô tả dựa trên loài chuẩn là Habropoda ezonata [11]. Hiện giống này có khoảng 55 loài đã được phát hiện trên thế giới [10, 1].
Miền Đông Phương có số lượng loài phong phú nhất (31 loài) [12], trong đó ghi nhận bốn loài ở các nước Đông Nam Á (Thái Lan và Việt Nam) [12]. Đặc biệt, Trung Quốc được đánh giá là trung tâm phân bố của giống Habropoda, ghi nhận tới 17 loài [13, 14]. Giống Elaphropoda được Lieftinck (1966) mô tả dựa trên loài chuẩn là Habropoda impatiens [15]. Giống này gồm 11 loài và chỉ tìm thấy ở miền Đông Phương.
Phạm vi phân bố của các loài khá hẹp, chẳng hạn loài Elaphropoda pulcherrima được ghi nhận ở Trung Quốc và Elaphropoda taiwanica ở Đài Loan [3, 2]. Gần như tất cả các loài được mô tả dựa trên một trong hai giới nên những thông tin về giới còn lại của các loài này hiện vẫn chưa rõ, trừ loài Elaphropoda impatiens. Giống này được đánh giá là rất hiếm trong hầu hết các bộ sưu tập ong mật ở trên thế 5 giới [15]. Theo thống kê các tài liệu, năm loài của giống Elaphropoda được ghi nhận ở các nước Đông Nam Á [3, 16].
Giống Varthemapistra: Giống này được Engel (2018) mô tả dựa trên loài chuẩn Varthemapistra edentata ở phía đông Bru-nây. Hiện giống này có một loài đại diện [10]. Tộc Melectini Theo tài liệu cập nhật, tộc Melectini gồm hơn 200 loài, chín giống được mô tả trên thế giới. Trong đó, ghi nhận hai giống (Thyreus và Tetralonioidella) ở miền Đông Phương.
Tuy nhiên, giống Thyreus có số lượng loài rất đa dạng và phạm vi phân bố rất rộng [17, 18, 2, 19, 20]. Giống Tetralonioidella được Strand (1914) mô tả dựa trên loài chuẩn Tetralonia hoozana [21]. Hiện nay, 19 loài thuộc giống này đã được tìm thấy trên thế giới. Trong đó, các nghiên cứu đã xác định 10 loài xuất hiện ở miền Đông Phương.
Đặc biệt, mẫu chuẩn của loài T.