Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Tổng quan về cây chuối Nguồn gốc Theo Simmond và Shepherd (1955), nguồn gốc của các giống chuối trồng đều xuất phát từ 2 loài chuối đại có hạt trong chi Musa là Musa acuminata va Musa balbisiana. Chính sự tái tổ hợp trong điều kiện tự nhiên va qua nhiều đời giữa 2 loài nay đã hình thành rất nhiều nhóm giống chuối. Trong đó nhóm Cavendish mang kiểu gen AAA với rất nhiều giống chuối tiêu thương mại đang được trồng rộng rãi ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thé, do đó các nghiên cứu về chọn tạo giống và phát triển sản xuất chuối chủ yêu được thực hiện đôi với nhóm này. Phân loại Theo Simmond va Shepherd (1955), cây chuối nằm trong bộ gừng Zingiberales, họ Musaceae, chi Musa.
Chi Musa theo truyền thống được phân chia thành 5 phan chi là Ingentimusa, Australimusa, Callimusa, Enmusa và Rhodochlamys. Chi Musa Chi Musa có 4 phân chi là Austrilimusa, Callimusa, Eumusa va Rohdochilamy. Trong các phân chi, Australimusa là phân chi cô nhất, các cây Musa. Testilis va Musa.
abaca chỉ sử dụng làm dây buộc, chúng chỉ có ý nghĩa về khía cạnh nguồn gốc của chuối, không có ý nghĩa về kinh tế, Calimusa chỉ có một loài dùng làm cảnh đo lá bắc màu đỏ tươi Musa coccinea. Rhodochlamys tuy có nhiễm sắc thé cơ sở là 11 nhưng có đặc điểm là bông đứng và rat ít hoa trong mỗi lá bắc (từ 1 — 5 hoa), (Rowee và Rsales, 1993). Trong các phân chi trên, Eumusa là phân chi đáng chú ý nhất không chỉ vì nó lớn nhất, phong phú về giống nhất mà còn về giá trị kinh tế của nó đặc biệt trong lĩnh vực ăn tươi và làm lương thực. Buồng quả của Eumusa ít nhiều cup xuống có thể ngang hoặc hơi ngang hay buông thong xuống.
Mỗi nai số quả nhiều và được xếp thành hai hàng. Ww Trong chi Eumusa các giống chuối đại ít khi có ích nhưng lại có giá trị trong lĩnh vực nghiên cứu. Theo Simmonds và Shepherd (1955) dựa vào nghiên cứu tiêu bản sống trong tập đoàn chuối lớn ở Trường Đại Học tổng hợp miền Đông Ấn Độ đã thấy được những tôn tại của hệ thống phân loại cô điển. Bang các nghiên cứu tế bào học hai ông đã lý giải được nguồn gốc của chuối trồng.
Các loài chuối ăn được đều xuất phát từ hai loài chuối dai có hạt Musa acuminata colla (ký hiệu là A) và Musa balbisiana colla (ký hiệu là B). Hai loài Musa acuminate colla và Musa balbisiana colla là hai loài quan trọng nhất trong chỉ Musa. Hai loài này có xuất xứ từ Đông Nam Châu Á. Trải qua nhiều quá trình di truyền chúng đã tạo ra loài chuối không hạt, ăn được.
Theo Simmonds va Shepherd (1955) đã đưa ra 15 chỉ tiêu cơ bản có sự khác biệt rõ ràng giữa Musa acuminata colla và Musa balbisiana.1 Chỉ tiêu xác định sự khác biệt giữa Musa acuminata colla và Musa balbisiana SIT Đặc Điểm Musa acuminata colla Musa balbisian 1 Mau sac than gia Nhiéu vét nau den Ít hoặc không có 2 uống 1s Mép thang, trải rộng có Mép tròn kín, không có cánh, không ôm thân giả cánh, phía dưới ôm thân giả 3 Cuống buồng Nhiều lông Không có lông 4 Cuống quả Ngắn Dài 5 Noãn Hai hàng thang Bốn hàng lộn x6n 6 Vai lá bắc Cao (X/Y < 0,28) Thấp (X/Y > 0,3) 7 Tập tính lá bắc Cuộn ngược Không cuộn ngược 8 Hình thái lá bắc Bóp nhọn từ vai Đều 9 Đỉnh lá bắc Nhọn Tù 10 Vita sốc Ï# bến a do, do toi trong do wee do dac biét, trong do 11 ae Nướng Nhạt đều đến gốc Không thay đổi 12 Seo lá bắc Lồi Phang, ít lồi 13 Cánh hoa đực tudo Gấp nhiều nếp Ít hoặc không gấp nếp 14 Màu hoa đực Trắng mượt Ánh đỏ khác nhau 15 Bầu nhụy Da cam, vàng đậm Màu kem, đỏ nhạt Nguôn: Simmonds và Shepherd (1955) 1.2 Gia trị dịnh dưỡng Chuối là một loại trái cây có thành phần của hầu hết những vi chất cần thiết cho cơ thể. Ngoài ra chuối có thé điều hoà hoạt động của hệ thần kinh và làm giảm nguy cơ 4 những bệnh về tim mạch do hàm lượng kali tự nhiên rất cao có trong chuối. Theo phân tích của khoa học, chuối chín bao gồm nhiều chất bột, chất đạm, chất xơ và khoáng chất. Đặc biệt chuối có hàm lượng Kali rất cao và cả 10 loại acide amin thiết yếu của cơ thể.
Theo Viện nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Malaysia (MARDI), chuối là loại trái cây duy nhất hội tụ đầy đủ thành phần những chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người. Do đó, chuối đặc biệt thích hợp dé bổ sung khâu phan dinh dưỡng cho trẻ em và người gia.2 Thanh phan dinh dưỡng của chuối (tính trên 100 g) Thành phần Hàm lượng Thành phần Hàm lượng Energy 90 kcal Natri 1 mg Carbohydrate 22,84 g Kali 356 mg Protein 1,09 g Canx1 5 mg Lipid 0,33 g Đồng 0,08 mg Chất xơ 2,60 g Sắt 0,26 mg Niacin 0,67 mg Magie 27 mg Thiamin 0,03 mg Mangan 0,27 mg Vitamin C 8,70 mg Phot pho 22 mg Vitamin E 0,10 mg Kém 0,15 mg Cholesterol 0 mg Selen lug Folate 20 ug Carotene — a 25 wg Vitamin A 3 ug Carotene — 26 Lg Vitamin K 0,50 ug Lutein+ zeaxanthin 22 wg (Nguon: USDA National Nutrient,2023) 1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối 1.1 Sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới Theo Tổ chức Nông lương thế giới (FAO, 2021), sản lượng chuối trên thế giới khoảng 124,98 triệu tan. Trong đó dan đầu là Án Độ 33,06 triệu tấn, tiếp đến là Trung Quốc 11,72 triệu tấn, Indonesia 8,74 triệu tan, Brazil 6,81 triéu tan, Ecuador 6,68 triệu tan, Philippines 6 triệu tan. Việt Nam xếp thứ 14 về sản lượng với trên 2,2 triệu tan.
Nhập khẩu chuối tập trung ở các nước: Mỹ, Bi, Đức, Nhật Ban, Trung Quốc, Liên Bang Nga. Thị trường ở các nước này chiếm 70% sản lượng chuối nhập khẩu trên thế giới. Trong đó những thị trường mới nổi, nhập khẩu nhiều là Trung Quốc và Liên Bang Nga.3 Sản lượng chuối một số nước thế giới năm 2021 TT Tên nước Sản lượng (triéu/tan) 1 ẨnĐộ 33,062 2 _ Trung Quốc 11,724 3 Trung Quốc đại lục 8,741 4 Ecuado 6,684 5 Philippines 5,942 6 = Angola 4,345 7 Guatemala 4,272 8 Tanzania 3,588 9 Costa Rica 2,556 Nguon: FAOSTAT (2021) 1.2 Sản xuất và tiêu thụ ở Việt Nam Các loại cây ăn quả có diện tích và sản lượng lớn của Việt Nam bao gồm chuối, dứa, cam, xoài, nhãn và vải. Trong đó, chuối là cây ăn quả có quy mô sản xuất lớn nhất.
Theo Tổ chức Nông lương thế giới (FAO, 2019), sản xuất chuối dat tong điện tích 133,638 ha và tạo ra sản lượng 2,194,247 tan, cao hơn so với các loại cây ăn quả khác.4 Bệnh héo héo vàng do nam Fusarium oxyporum f. sp cubense Ban đầu bệnh xuất hiện ở những lá phía dưới, lá bị vàng dan từ bìa lá trở vào, sao đó lan dần lên các lá phía trên. Đồng thời với quá trình này thì cuống lá bị gãy gập xuống, rồi cả phiến lá bị chết khô. Khi lá phía dưới bị bệnh, thì lá phía trên ngọn tuy sống nhưng đã chuyên sang màu xanh nhạt hơi vàng, méo mó.
Về sau lá bị héo úa, gãy gập rồi chết khô. Sau khi lá bị chết, các bẹ lá phía ngoài đã bị nứt làm thân giả bị thối, khô và gãy gập xuống. Những cây con mới ra chưa có biểu hiện bị bệnh ngay, nhưng về sau lá cũng bị vàng héo rụi và chết dan. Nếu bị bệnh sớm, cây có thé bị chết hoặc không cho buồng.
Nếu cây trưởng thành mới bị bệnh, thì cây vẫn cho buồng, nhưng trái nhỏ. Chẻ dọc thân cây bệnh, sẽ thấy có mùi hôi, các be phía ngoài có sọc nâu, các be non bên trong có sọc vảng. Cắt củ chuối ra, sẽ thấy các bó mạch bị hư hại tạo thành các đốm vàng, đỏ nâu (Số tay hướng dẫn kỹ thuật cây chuối theo VietGap, 2020).1 Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh Ảnh hưởng của nhiệt độ Đây là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh. Người ta nhận thấy rằng sự phát triển của bệnh đạt tối ưu khi nhiệt độ đạt tối ưu cho sự sinh trưởng của cây.
Thông thường nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của bệnh là 25°C — 35°C. Khi nhiệt độ trên hoặc dưới ngưỡng này, sự phát triển của bệnh chậm lại. Trong thời gian mùa đông và ở những vùng có độ cao trên 700 m như Jamaica người ta nhận thấy bệnh phát triển rất chậm. Ngược lại ở những vùng nhiệt đới sức tấn công của bệnh cao hơn các vùng khác (Wardlaw, 1961).
Ảnh hưởng của các nguyên tố dinh dưỡng Ở Canary Islands người ta nhận thấy hàm lượng Zn thấp, tỉ lệ Ca: Mg và K: Mg cao thì khả năng tấn công của bệnh cao hơn. Điều đó được giải thích rằng hàm lượng Zn thấp có liên quan đến giảm hình thành tyloza, trong khi tỉ lệ Ca: Mg và K: Mg có liên quan đến hình thành pectin của thành tế bào cây chủ. Như vậy, các yếu tố dinh dưỡng cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh (Wardlaw, 1961). Ảnh hưởng của đất Nam có thé sống hoại sinh trong củ chuối và các bộ phận khác một thời gian dai, lây lan chủ yêu qua cây chuôi con và dat mang mâm bệnh.
Nam Fusarium oxysprum f. cubense (Foc) xâm nhập chủ yếu qua chóp rễ hoặc các vét thương ở rễ. Sau khi xâm nhập, nam sẽ phát triển trong bó mach làm cho cây bị vàng héo và chết (Trần Danh Sửu ctv, 2017). Khả năng sinh trưởng và sống sót của nam Fusarium oxysprum f.
Các điều kiện như độ 4m đất cao, đất kém thoát nước, đất nghèo dinh dưỡng tạo điều kiện cho bệnh phát triển mạnh (Tôn That Trình, 1973). Con đường lan truyền bệnh Nam Fusarium oxysporum f. cubense (Foc) là loại nam cư trú trong đất. Các bao tử có vách day có thé sống ở trong dat, trong xác cây bị bệnh, trong rễ cây kí chu trung gian tới 30 năm.
Chúng có thé lan truyền từ vùng nay sang vùng khác theo cách: lan truyền chủ yếu bằng sự di chuyển của thân củ, cây con giống, đất bị nhiễm bệnh và các phương tiện vận chuyên như xe tải, xẻng, cuốc. Ngoài ra, gió và nước cũng là tác nhân lan truyền bệnh phát tán các loại bào tử đi xa tới nơi chưa có mầm bệnh. Tuy nhiên do thời gian tồn tại của các bào tử này ở ngoài không khí ngắn cho nên lan truyền bằng con đường này không đóng vai trò quan trọng (Wardlaw, 1961).2 Phòng trừ nắm Fusarium oxysporum f. cubense (Foc) trên chuối Hiện nay chưa có phương pháp phòng trừ nào thực sự hiệu quả với bệnh héo vàng chuối do nam Fusarium oxysporum f.