Đặt vấn đề Việt Nam là một trong những quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới. Từ năm 1997 Việt Nam đã ở trong tốp 4 nước xuất khẩu cà phê, và sau 15 năm tính đến hết tháng 7/2015, Việt Nam xuất khẩu 1,22 triệu tấn cà phê, đạt giá trị 2,58 tỷ USD, tăng 31,6 % về khối lượng và 25,4 % về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái, đưa Việt Nam vượt Brazil trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến năm 2020 Việt Nam có trên 600.000 hec-ta cà phê, với sản lượng trung bình khoảng 1,5 triệu tấn/ năm. Trong đó diện tích cà phê Robusta chiếm tỉ lệ 93 %.
Cà phê Việt Nam được xuất khẩu sang hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, ước tính xuất khẩu 1,7 triệu tấn với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 2,7 tỷ USD. Có thể nói, ngành cà phê nước ta đã có những bước phát triển nhanh vượt bậc chỉ trong vòng 15-20 năm trở lại đây. Tây Nguyên là vùng đất nổi tiếng về cà phê với các địa danh như: Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đắk Nông, Gia Lai. Trong đó vựa cà phê Buôn Ma Thuột ở Đắk Lắk là một trong những vựa cà phê lớn nhất thế giới.
Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là mặt hàng nông sản xuất khẩu đứng thứ 2 về kim ngạch. Do giá cả tăng cao dẫn đến việc mở rộng diện tích trồng cà phê không theo quy hoạch. Đặc biệt nhằm mục đích đạt được năng suất tối đa người trồng cà phê đã loại bỏ cây che bóng, đồng thời tăng cường bón phân hóa học, lượng nước tưới v.v… Những biện pháp thâm canh cao độ này không những đã làm cho cây cà phê nhanh chóng bị kiệt sức, sớm già cỗi mà còn làm cho môi trường đất bị ô nhiễm nghiêm trọng, làm phát sinh nhiều loại sâu, bệnh hại gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng, chất lượng cà phê. Photpho là một trong những nguyên tố đa lượng quan trọng chính của cây trồng (N, P, K), thành phần của axit nucleic, phytin, photpholipit và là thành phần của ADP, ATP, AMP đóng vai trò quan trọng trong quá trình cố định, dự trữ và chuyển hóa năng lượng.
Photpho có tác dụng thúc đẩy phát triển và tăng 1 khả năng chống chịu của cây trồng. Thiếu photpho, sự hình thành tế bào mới bị chậm lại, cây còi cọc ít phân cành, đẻ nhánh, lá có màu xanh lục bẩn, không sáng. Thiếu photpho, năng suất cây trồng bị giảm sút nghiêm trọng, ngay cả khi được cung cấp đủ nitơ. Từ đó, ảnh hưởng đến quá trình đậu quả, quá trình chín của quả và hạt, giảm tính chống chịu, ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng.
Tuy nhiên, phân lân khi bón vào đất lại dễ dàng bị kết tủa thành các dạng không hòa tan như: CaHPO4, Ca3(PO4)2, FePO4 và AlPO4 nên cây khó hấp thu. Các vi sinh vật trong đất, đặc biệt là nấm và vi khuẩn có vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa và hòa tan P bất động trong đất. Kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy các vi sinh vật phân giải hợp chất photpho khó tan được biết đến nay là các loài: Pseudomonas, Micrococus, Bacillus, Flavobacterium, Penicillium, Sclerotium, Aspergillus. Các vi sinh vật này không chỉ phân giải photphat canxi mà cả photphat nhôm, sắt, mangan và các dạng khác kể cả quặng.
Vì vậy, việc bổ sung các vi sinh vật phân giải P khó tan được coi là một giải pháp hữu hiệu đồng thời làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón và góp phần bảo vệ môi trường. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân lập và tuyển chọn một số chủng vi khuẩn vùng rễ có khả năng phân giải phosphate khó tan cây cà phê ở Tây Nguyên. Mục đích và nội dung nghiên cứu 1.1 Mục đích Phân lập và tuyển chọn một số chủng vi khuẩn vùng rễ có khả năng phân giải phosphate khó tan trên cây cà phê ở Tây Nguyên.2 Nội dung nghiên cứu • Tuyển chọn và nghiên cứu đặc điểm của một số chủng vi khuẩn có khả năng phân giải phosphate khó tan từ đất vùng rễ cây cà phê ở Đắk Lắk • Nghiên cứu khảo sát ảnh hưởng của một số yếu tố như nguồn C, N, pH, nhiệt độ, thời gian, nồng độ muối đến khả năng phân giải phosphate khó tan. • Khảo sát một số đặc tính sinh học: 2 Nghiên cứu khả năng sinh hormon kích thích sinh trưởng thực vật: khả năng sinh IAA Khả năng đối kháng với chủng vi khuẩn gây bệnh.
3 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tồng quan về cây cà phê Cây cà phê có nguồn gốc từ châu Phi cận nhiệt đới và phía Nam châu Á là một chi thực vật thuộc họ Thiến Thảo (Rubiaceae). Hai loại phổ biến nhất là Coffea arabica (thường được gọi đơn giản là "Arabica"), chiếm 60-80 % sản lượng cà phê thế giới, và Coffea canephora (được gọi là "Robusta"), chiếm khoảng 20-40 %. Coffea arabica có nguồn gốc ở Abyssinia, nó được tìm thấy trong các khu rừng ở vùng cao Ethiopia, nơi nó đã được hái trong nhiều thế kỷ.
Các loài bao gồm các giống Typica, Maragogype, Bourbon, Blue Mountain và Mundo Novo. Arabica truyền thống được coi là chất lượng tốt hơn, nhờ hương vị thơm ngon, dịu nhẹ và mùi hương dễ nhận biết, cũng như hàm lượng caffein thấp. Loài Coffea canephora mọc hoang trên các đồng bằng cận xích đạo của Tây và Trung Phi. Robusta, với hương vị bình thường hơn Arabica, có hàm lượng caffein cao.
Cà phê được người Pháp đưa vào trồng ở Việt Nam chính thức từ năm 1857, từ đảo Martinique và vùng Guyane thuộc Pháp ở châu Mỹ Latin vì có khí hậu và thổ nhưỡng nhiệt đới tương tự Việt Nam. Đầu tiên, loại Arabica được thử ở phía Bắc rồi ở miền Trung (Quảng Trị, Bố Trạch,. Sở dĩ loại Arabica được thử nghiệm trước vì có giá trị hơn, nguyên gốc ở Ethiopia, thích hợp với khí hậu vùng cao nguyên và vùng núi cao từ 800-2.000 m, và có nhiệt độ từ 15-300C.1 Cây cà phê Cây cà phê là cây công nghiệp lâu năm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân các tỉnh thành Tây nguyên. Cây cà phê có 3 loại chính là cà phê chè, cà phê vối và cà phê mít.
Mỗi loại đều cần có điều kiện sinh thái khác nhau để 4 có thể sinh trưởng và phát triển tốt nhất. Cây cà phê chè có thể cao tới 6 m, cà phê vối tới 10 m. Tuy nhiên, phải cắt tỉa để giữ được độ cao từ 2-4 m, thuận lợi cho việc thu hoạch. Cây cà phê có cành thon dài, lá cuống ngắn, xanh đậm, hình oval.
Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt hơn. Chiều dài của lá khoảng 8-15 cm, rộng 4-6 cm. Rễ cây cà phê là loại rễ cọc, cắm sâu vào lòng đất từ 1 đến 2,5 m với rất nhiều rễ phụ tỏa ra xung quanh làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng nuôi cây. Hoa cà phê màu trắng, có 5 cánh, thường nở thành chùm đôi hoặc chùm ba.
Hoa chỉ nở trong vòng 3-4 ngày và thời gian thụ phấn chỉ vài ba tiếng. Một cây cà phê trưởng thành có từ 30-40 ngàn bông hoa. Cà phê là loài cây tự thụ phấn. Do đó, gió và côn trùng ít có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh sản của cây.
Sau khi thụ phấn quả sẽ phát triển trong 7-9 tháng và có hình bầu dục. Trong thời gian chín, màu sắc của quả thay đổi từ xanh sang vàng rồi cuối cùng là đỏ. Quả có màu đen khi đã chín nẫu. Do thời gian đâm hoa kết trái lâu như vậy mà 1 vụ cà phê kéo dài gần 1 năm và có thể xảy ra trường hợp trên một cây vừa có hoa, vừa có quả.
Thành phần chính của cà phê là caffeine, tanin, dầu cố định, carbohydrate và protein. Nó chứa 2-3 % caffein, 3-5 % tannin, 13 % protein và 10-15 % dầu cố định. Trong hạt, caffein hiện diện dưới dạng muối của axit chlorogenic (CGA). Ngoài ra nó còn chứa dầu và sáp.
Cà phê thường được sử dụng như chất chống oxy hóa, nhưng quan trọng hơn cà phê là nguồn cung cấp crom và magiê tốt giúp kiểm soát lượng đường trong máu bằng cách đảm bảo sử dụng insulin thích hợp.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây cà phê trên thế giới và tại Việt Nam 2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây cà phê trên thế giới Thị trường cà phê năm 2020 trải qua khó khăn kép khi giá cà phê vẫn chưa thoát khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài 4 năm thì đại dịch COVID-19 lan rộng toàn cầu, khiến nhiều nền kinh tế bị đóng băng kéo theo nhu cầu cà phê giảm sút. Thêm vào đó, tình trạng thiếu container rỗng cũng tác động không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.2 Sản lượng và tiêu thụ cà phê toàn cầu (nguồn: ICO) Theo báo cáo cập nhật mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ 2020 - 2021 dự kiến đạt 175,5 triệu bao 60 kg, cao hơn niên vụ trước 7 triệu bao. Trong đó Brazil có thể sẽ chiếm phần lớn sản lượng do vụ cà phê arabica của nước này bước vào năm được mùa của chu kỳ sản xuất hai năm một lần và cà phê robusta đạt sản lượng kỷ lục. Sản lượng cà phê Arabica của Brazil ước tính tăng 5,8 triệu bao so với niên vụ trước lên 47,8 triệu bao.
Điều kiện thời tiết thuận lợi ở hầu hết các vùng trồng cà phê đã hỗ trợ quá trình phát triển và kết trái, do đó năng suất cao hơn. Sản lượng cà phê robusta dự kiến sẽ tăng 1.6 triệu bao lên mức kỉ lục là 20,1 triệu bao. Như vậy, tổng sản lượng arabica và robusta của Brazil dự báo tăng 7,4 triệu bao lên mức kỷ lục 67,9 triệu bao. Sản lượng của Ấn Độ dự kiến sẽ tăng 300.000 bao lên 5,3 triệu bao do thời tiết thuận lợi trong giai đoạn ra hoa và kết trái.
Xuất khẩu cũng như tồn kho được dự báo không đổi lần lượt ở mức 3,5 triệu bao và 900. Tổng sản lượng cà phê của Trung Mỹ và Mexico dự báo tăng 900.000 bao lên 18,3 triệu bao tuy nhiên bệnh gỉ sắt trên cây cà phê vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến sản lượng. Honduras dự kiến sẽ chiếm gần như toàn bộ sự tăng trưởng của khu vực, với mức tăng 700.000 bao lên 6,1 triệu bao nhờ điều kiện trồng trọt thuận lợi cùng 6 với việc tăng cường bón phân để tăng năng suất. Nước này chiếm khoảng 1/3 sản lượng của khu vực.