Đặt vấn đề Tre - Trúc thuộc họ Hồ Thảo (Poacae Barnh), lớp cây một lá mầm. Trên thế giới hiện nay có khoảng 1300 loài thuộc 70 chi, nước nhiều Tre nhất là Trung Quốc với khoảng 50 chi với 500 loài, ở Việt nam có 29 chi 150 loài. Tre - Trúc là lâm sản ngoài gỗ có rất nhiều công dụng, có thể nói từ thân, gốc, rễ, lá, quả đều được sử dụng triệt để, bộ phận được sử dụng rộng rãi đó là thân khí sinh. Do thân khí sinh của Tre - Trúc có nhiều đặc tính tốt nên sử dụng trong xây dựng nhà cửa, đúng đồ gia dụng, làm bố mảng, cầu phao.
Hiện nay công nghiệp phát triển, Tre - Trúc là nguồn nguyên liệu quí giá cho sản xuất giấy cao cấp, cho ván sàn, ván ép, đồ mộc cao cấp, chiếu trúc, than hoạt tính, thủ công mỹ nghệ…, có thể nói Tre - Trúc thay thế được gỗ trong nhiều lĩnh vực. Với công nghệ chế biến cao, những sản phẩm sản xuất từ Tre - Trúc không những đẹp mà còn có độ bền cao, khả năng chịu nén, chịu lực tốt. Thân Tre - Trúc có tỷ trọng cao, nhiều lỗ hổng và nhiều chất khoáng, thân Tre được Cacbon hoá có nhiều ứng dụng như làm chất khử mùi, điều hồ độ ẩm, chặn súng hồng ngoại, ngăn cản điện từ, than được sử dụng nhiều trong cuộc sống như nấu ăn. Nhiệt lượng 1 kg than hoạt tính có thể đạt 7703 kcal/kg cao hơn so với than hoạt tính gỗ, than có khả năng lọc nước tốt.
Gốc, thân Tre - Trúc có thể tạc tượng, thân ngầm và cành đều có thể sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ. Lá một số loài có thể xuất khẩu, lá dựng chế biến thuốc kháng sinh chống một số bệnh như cảm, cúm…Việt Nam có 10 loài Tre - Trúc cho măng ăn ngon (Mai ống, Luồng, Lồ ô, Là ngà, Trúc sào, Vầu đắng, Tre gầy…). Tuy nhiên, các loài cho măng ngon năng suất cao, chất lượng tốt chưa được phát triển, việc khai thác măng chỉ dừng lại ở mức độ tận dụng[2],[15]. Loài Bương lông Điện Biên, còn có các tên gọi khác như Mạy púa mơi, Bương lớn, Bương lớn Điện Biên.
Là một trong những loài tre có kích n 2 thước lớn nhất ở Việt Nam, chiều cao 18 - 24cm, đường kính gốc 12 - 18cm, có vách dày, chiều dài đốt từ 25 - 30cm, ít cành nhánh, khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sản phẩm rất cao. Mặt khác, hiện nay việc kinh doanh cây Bương lông Điện Biên vẫn theo hướng quảng canh, dựa vào kinh nghiệm của người dân địa phương và điều kiện tự nhiên sẵn có là chính nên năng suất không cao như vốn có của nó. Đặc biệt việc phát triển mở rộng diện tích trồng loài cây này rất khó khăn do nhân giống bằng gốc rất hạn chế về số lượng giống, người dân chưa nắm được kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết cành hoặc giâm hom cành nên số lượng giống cung cấp ra thị trường ít chưa đáp ứng được nhu cầu nhân rộng mô hình, hơn nữa người dân địa phương chỉ cho rằng trồng bằng giống gốc mới cho năng suất, trong khi đó nhiều loài tre mọc cụm khác việc nhân giống và trồng bằng giống cành đã đem lại hiệu quả kinh tế rất cao như: Luồng (Dendrocalamus barbatus), Mai xanh (Dendrocalamus latiflorus),vv. Như vậy, việc gây trồng Bương lông Điện Biên còn thiếu hướng dẫn kỹ thuật nhân giống có khả năng đáp ứng số lượng giống lớn cho gây trồng nhân rộng; thiếu biện pháp kỹ thuật trồng rừng, kỹ thuật và công nghệ chế biến chưa được quan tâm nghiên cứu.
Do đó, việc kế thừa kết quả nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng, chế biến đã thành công cho một số loài tre, đặc biệt là các loài thuộc chi Dendrocalamus vào nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật trồng, chế biến sản phẩm và tổng kết những kiến thức bản địa có giá trị kết hợp với kỹ thuật hiện đại cần được nghiên cứu thử nghiệm cho cây Bương lông Điện Biên. Xuất phát từ những lý do nêu trên, được sự cho phép của Ban Giám Hiệu Trường Đại Hộc Nông Lâm Thái Nguyên và sự giao phó của ban chủ nhiêm Khoa Lâm Nghiệp cùng với sự giúp đỡ của UBND xã Mường Phăng tôi xin thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây Bương lông (Dendrocalamus giganteus) tại xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên”. Mục đích nghiên cứu 1. Về lý luận - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây Bương lông.
- Điều tra tình hình phân bố của cây Bương lông tại xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Về thực tiễn - Tìm các biện pháp kĩ thuật thích hợp để nhân giống cây Bương lông phục vụ nhu cầu của người dân và làm nguyên liệu chế biến tỉnh. Mục tiêu nghiên cứu 1. Về lý luận - Xác định được đặc điểm phân bố và sinh trưởng cây Bương lông tại xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Tổng kết kiến thức bản địa của người dân địa phương về kỹ thuật trồng, giá trị sử dụng, thị trường. Về thực tiễn - Đề xuất các biện pháp kỹ thuật chăm sóc và phát triển cây Bương lông nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên liệu chế biến cho tỉnh Điện Biên và các tỉnh lân cận. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa lý luận - Qua quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề khoa học ngoài thực tiễn.
- Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể. - Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn - Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng hiện nay, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng. - Giúp nắm rõ hơn về đặc điểm phân bố và sinh trưởng phát triển của loài cây Bương lông.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Đặc điểm sinh vật học, đặc điểm sinh trưởng của tre trúc Cơ quan sinh dưỡng của tre trúc gồm thân ngầm, măng, cành, lá, rễ. Thân khí sinh và thân ngầm hợp thành thể thống nhất. Thân ngầm sinh ra măng, măng mọc thành tre (trúc), tre nuôi thân ngầm hoặc sinh thân ngầm mới, mỗi thân ngầm lại sinh măng, cứ luôn hồi như vậy, cho nên cả rừng tre là một thể thống nhất.
Cơ quan sinh sản của tre trúc là hoa, quả, hạt, nhưng tre trúc lại nhân giống chủ yếu bằng sinh dưỡng vì tre trúc hàng mấy chục năm thậm chí hàng trăm năm mới ra hoa kết quả một lần. Năng lực sinh trưởng dinh dưỡng và tái sinh vô tính của tre trúc rất mạnh, măng tre trúc được phân sinh từ gốc, từ thân ngầm mà ra, lợi dụng đặc tính này người ta có thể sản xuất kinh doanh rừng tre trúc liên tục. Tre trúc hàng năm đều sinh ra măng mọc thành tre, cho nên bụi tre, rừng tre luôn là rừng khác tuổi. Tre trúc sinh trưởng rất nhanh vì thân, cành, thân ngầm của tre trúc đều sinh đốt, mỗi đốt đều có tổ chức phân sinh, đều sinh trưởng nên tre trúc sinh trưởng rất nhanh.
Hầu hết các loài tre trúc chỉ cần trên dưới 3 tháng (khoảng 100 ngày) đã hoàn thành sinh trưởng chiều cao và đường kính. Thời gian về sau chỉ là hoàn thiện, cây cứng ra, tích luỹ Cellulose v. v… mà không tăng thêm về đường kính chiều cao nữa. Đường kính thân tre, số đốt tre (lóng tre) được quyết định trong giai đoạn măng.
Mặc dù sinh trưởng mạnh mẽ, nhu cầu về các chất dinh dưỡng, nước, muối khoáng cao song tre trúc vẫn là bạn của môi trường do có khả năng bảo vệ đất, chống xói mòn nhờ bộ rễ và thân ngầm ăn rộng, chằng chịt, lá rụng nhiều và không ảnh hưởng xấu đến môi trường. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Trên thế giới Các nghiêu cứu về tre trúc trên thế giới đã bắt đầu từ khá lâu và rất đa dạng. Đầu tiên phải kể tới ấn phẩm Nghiên cứu về tre trúc của Munro (1868).
Sau đó có nghiên cứu về cácloài tre trúc Ấn Độ (Gamble 1896) trong đó tác giả mô tả hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và một số nước láng giềng như Pakistan, Srilanca, Myanma, Malaysia và Indonesia. Tác giả cũng cho rằng các loài tre trúc là loài chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất. Haig và cộng sự (1959) cũng bình luận rằng sự phân bố tự nhiên của tre trúc ở Myanma cũng chỉ thị rất tốt các điều kiện đất đai ở đó. Ở Trung Quốc cũng có rất nhiều các nghiên cứu về phân loại, các kỹ thuật tạo giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác, chế biên và cả về thị trường tre trúc và các sản phẩm sản xuất từ tre trúc (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn 2007)[2], [15] Loài Dendrocalamus giganteus Munro được công bố năm 1868 (Munro 1868), là một trong hai loài tre lớn nhất của chi Dendrocalamus cũng như tre của thế giới.
Loài tre này đều có đường kính thân từ 20-30cm, cao từ 20-30m, vách dày 2 - 2,5 cm, vỏ có màu xanh lục. Đây cũng là loài tre có giá trị kinh tế cao ở Trung Quốc[15]. Cây Bương lông (Dendrocalamus giganteus) thuộc họ tre trúc. Tre là một tài nguyên Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) rất có giá trị.
Có tới hơn một nửa dân số thế giới liên quan với nhóm tài nguyên này. Tre thuộc phân họ Tre (Bambusoideae), họ Cỏ (Poaceae) với khoảng 1300 loài thuộc 70 chi phân bố trên toàn thế giới. Theo thống kê có trên 14 triệu ha rừng tre phân bố từ 510 vĩ Bắc đến 470 vĩ Nam đều có tre phân bố. Nhiều loài tre có đặc tính mọc thành rừng.
Nước nhiều tre nhất là Trung Quốc, với khoảng 50 chi, 500 loài và diện tích 7 triệu ha rừng tre. Nước nhiều tre thứ hai là Nhật Bản với 13 chi, trên 230 loài và diện tích 0,1 triệu ha rừng tre.Tiếp đó là các nước Ấn Độ, các nước Nam và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam (Trần Văn Mão và nhóm tác giả, 2006) [13], [14]. Ở Việt Nam Có thể nói, Việt Nam là một đất nước của tre trúc, có điều kiện thiên nhiên ưa đãi cho sự sinh trưởng, phát triển của tre trúc, từ miền ngược đến miền xuôi đâu đâu cũng thấy hiện diện của tre trúc. Tre trúc dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên được sử dụng trong rất nhiều các mục đích khác nhau của con người, đặc biệt là người dân nông thôn cả miền đồng bằng và miền núi.