Tổng quan nghiên cứu

Tài nguyên nước mặt giữ vai trò quyết định đối với an ninh sinh thái và sự phát triển kinh tế của thành phố Cần Thơ, nơi cung cấp nguồn sống cho hơn 1,22 triệu dân trên tổng diện tích tự nhiên với 93.494 ha đất phù sa và 19.625 ha đất phèn. Mặc dù nguồn nước ngọt toàn cầu chỉ chiếm 2,5% tổng lượng nước và 97,5% còn lại là nước mặn, Cần Thơ được thiên nhiên ưu đãi mạng lưới sông ngòi dày đặc với hơn 300 km kênh trục chính, khoảng 800 km kênh cấp hai và 1.000 km kênh cấp ba.

Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa nhanh chóng, sự gia tăng dân số tập trung tại quận Ninh Kiều lên tới 7.241 người/km² cùng với việc phát triển 8 khu công nghiệp tập trung quy mô 2.164 ha đang tạo ra áp lực khổng lồ lên hệ thống cấp thoát nước. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, nước biển dâng khiến ranh giới mặn trên sông Hậu có nguy cơ lấn sâu thêm 30 đến 40 km trong mùa kiệt, kết hợp lượng nước thải công nghiệp và hơn 650 tấn chất thải rắn mỗi ngày chưa được xử lý triệt để trước khi đổ ra sông Hậu, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nguồn nước.

Trước thực trạng đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện nhu cầu khai thác, tính toán cân bằng nước trên hệ thống sông kênh rạch thuộc 9 quận, huyện của thành phố Cần Thơ cho giai đoạn 2012 đến 2020. Mục tiêu trọng tâm là đề xuất phương án phân bổ lưu lượng hợp lý trong điều kiện hạn hán kiệt quái và xây dựng bộ giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc định lượng dòng chảy cấp nước, giải quyết xung đột lợi ích giữa các ngành dùng nước và đảm bảo phát triển bền vững cho vùng đô thị trung tâm đồng bằng sông Cửu Long.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý tổng hợp tài nguyên nước, tiếp cận theo nguyên tắc coi nước là tài sản công có giá trị kinh tế và phải được quản lý thống nhất theo lưu vực. Đề tài tích hợp nguyên tắc chia sẻ nguồn nước công bằng, lý thuyết cân bằng nước hệ thống sông ngòi và các quy định của Luật Tài nguyên nước Việt Nam.

Ba khái niệm cốt lõi được vận dụng xuyên suốt gồm:

  • Phân loại đối tượng sử dụng nước có hoàn lại và không hoàn lại;
  • Dòng chảy môi trường tối thiểu duy trì hệ sinh thái thủy sinh;
  • Khả năng tự làm sạch và đồng hóa chất ô nhiễm của mạng lưới thủy lực ven triều.

Khung lý thuyết của luận văn cũng tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế từ Cộng hòa Pháp về cơ chế phân cấp quản lý theo lưu vực và nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức về hệ thống quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ và bài học từ Hà Lan trong việc kết hợp đê bao ngăn lũ với quy hoạch không gian bờ kênh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn số liệu thứ cấp thu thập liên tục từ chuỗi quan trắc khí tượng thủy văn giai đoạn 1961 đến 2012 của Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ, kết hợp số liệu thống kê kinh tế xã hội và hiện trạng sử dụng đất từ 9 quận, huyện trên toàn địa bàn. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 38 điểm quan trắc chất lượng nước mặt đại diện cho toàn bộ các trục kênh chính và 30 vị trí cầu cống trọng điểm kiểm soát lưu lượng dòng chảy lũ từ Tứ giác Long Xuyên về Tây sông Hậu với lưu lượng đo thực tế 503 m³/s.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng theo không gian địa lý, tập trung vào các nút giao thủy lực quan trọng như kênh Cái Sắn, sông Ô Môn, kênh Thốt Nốt và sông Cần Thơ. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính bao quát toàn bộ đặc trưng dòng chảy hai chiều của bán nhật triều không đều với biên độ triều 3,00 đến 3,50 m.

Phương pháp phân tích chính bao gồm:

  • Ứng dụng phần mềm Cropwat 8.0 để tính toán nhu cầu bốc thoát hơi nước và lượng nước tưới cho 93.000 ha lúa cùng 15.000 ha cây ăn trái;
  • Áp dụng mô hình thủy lực một chiều tính toán cân bằng nước toàn đồng bằng sông Cửu Long, được hiệu chỉnh và kiểm định độ chính xác thông qua hệ số Nash-Sutcliffe;
  • Xây dựng phần mềm quản lý thông tin tài nguyên nước mặt trên nền tảng Visual C# kết hợp hệ thống thông tin địa lý ArcGIS với 9 chức năng chuyên sâu phục vụ tra cứu chất lượng nước và cấp phép khai thác.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả tính toán tổng hợp cho thấy tổng nhu cầu sử dụng nước của thành phố Cần Thơ năm 2012 là 2.209,18 triệu m³ và dự kiến đến năm 2020 sẽ đạt khoảng 2.208,57 triệu m³. Cơ cấu dùng nước có sự chênh lệch rất lớn giữa các ngành kinh tế:

Thứ nhất, nông nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng áp đảo tuyệt đối trong cơ cấu dùng nước. Năm 2012, nhu cầu nước nông nghiệp là 1.551,77 triệu m³ (chiếm 70,24%), thủy sản cần 583,04 triệu m³ (chiếm 26,39%). Đến năm 2020, nhu cầu nước nông nghiệp giảm nhẹ xuống 1.477,75 triệu m³ do diện tích đất canh tác giảm theo xu thế đô thị hóa, trong khi thủy sản giữ mức ổn định 583,04 triệu m³.

Thứ hai, các ngành công nghiệp và dịch vụ du lịch ghi nhận tốc độ gia tăng nhu cầu nước vượt bậc. Nhu cầu nước công nghiệp tăng mạnh từ 19,87 triệu m³/năm (tương đương 54.450 m³/ngày) năm 2012 lên 48,18 triệu m³/năm (tương đương 132.000 m³/ngày) vào năm 2020, đạt mức tăng trưởng hơn 242% với tốc độ tăng bình quân xấp xỉ 30%/năm. Tương tự, nhu cầu nước phục vụ du lịch và dịch vụ tăng từ 7,11 triệu m³ lên 19,92 triệu m³, tương ứng mức tăng 280%.

Thứ ba, nhu cầu nước sinh hoạt đô thị và nông thôn tăng từ 47,41 triệu m³/năm (129.901 m³/ngày) năm 2012 lên 79,68 triệu m³/năm (218.311 m³/ngày) năm 2020, do định mức cấp nước sinh hoạt thành thị nâng từ 120 lên 150 lít/người/ngày và nông thôn nâng từ 80 lên 120 lít/người/ngày.

Thứ tư, nguồn nước mặt cung cấp từ sông Hậu vào các trục kênh chính trong mùa kiệt rất dồi dào. Lưu lượng bình quân kỳ triều đo đạc thực tế từ ngày 11 đến 26 tháng 2 năm 2013 cho thấy dòng chảy từ sông Hậu đổ vào sông Cần Thơ đạt 116,22 m³/s, sông Ô Môn đạt 59,42 m³/s, kênh Cái Sắn đạt 45,96 m³/s và kênh Thốt Nốt đạt 28,60 m³/s, đủ năng lực đáp ứng tổng nhu cầu dùng nước của địa phương.

Thảo luận kết quả

Khả năng đáp ứng nguồn nước mặt dồi dào của Cần Thơ bắt nguồn từ đặc thù thủy văn sông Mê Công, khi có tới 33% lưu lượng từ sông Tiền chuyển sang sông Hậu qua phân lưu Vàm Nao vào mùa kiệt, duy trì lưu lượng sông Hậu trên 1.000 m³/s. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất không nằm ở tổng lượng nước mà ở tính chất phân bố theo không gian và thời gian. Trong 5 tháng mùa khô (tháng 12 đến tháng 4 năm sau), lượng bốc hơi lên tới 110 đến 120 mm/tháng trong khi lượng mưa gần như bằng không. Tần số xuất hiện các đợt hạn 7 ngày trong tháng 5 lên tới 76% tại Cần Thơ, đe dọa nghiêm trọng thời kỳ gieo sạ lúa Hè Thu.

Bên cạnh đó, chất lượng nước mặt bị suy thoái cục bộ nghiêm trọng do nguồn nước thải nuôi trồng thủy sản xả thẳng ra kênh rạch chứa 70% đến 80% thức ăn dư thừa chưa qua xử lý. Toàn bộ diễn biến này có thể được mô tả và trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ cơ cấu tiêu thụ nước phân kỳ 2012-2020, bảng cân bằng nước chi tiết theo từng tiểu vùng và bản đồ phân vùng ô nhiễm sinh học BOD5 tại 38 điểm quan trắc trên nền tảng phần mềm GIS. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu thủy văn tại đồng bằng sông Cửu Long, chứng minh rằng bài toán tài nguyên nước của Cần Thơ là bài toán kiểm soát chất lượng và điều tiết kênh nhánh nội đồng hơn là thiếu hụt tổng lượng nguồn cấp.

Đề xuất và khuyến nghị

Để đảm bảo an ninh nguồn nước và nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước cho thành phố Cần Thơ đến năm 2020, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nạo vét và nâng cấp đồng bộ mạng lưới thủy lợi nội đồng: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Cần Thơ chủ trì triển khai nạo vét các tuyến kênh trục huyết mạch như Cái Sắn, Thốt Nốt, Ô Môn và 800 km kênh cấp hai trong giai đoạn 2016 đến 2020. Mục tiêu đảm bảo cấp đủ 100% nước tưới tự chảy vào đỉnh triều cho các vùng trũng huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, đồng thời gia cố hệ thống bờ bao ngăn lũ kiểm soát mức ngập 0,50 đến 0,80 m cho vùng cây ăn trái.

  2. Triển khai phần mềm cơ sở dữ liệu GIS quản lý cấp phép và quan trắc: Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ hoàn thiện và đưa vào vận hành phần mềm quản lý thông tin tài nguyên nước mặt 9 chức năng từ năm 2016. Hệ thống cho phép số hóa toàn bộ 38 điểm quan trắc, tự động hóa quy trình xét duyệt cấp phép khai thác nước mặt cho các tổ chức, doanh nghiệp đạt tỷ lệ xử lý hồ sơ trực tuyến 100% vào năm 2018.

  3. Kiểm soát xả thải và xử lý nước thải công nghiệp, thủy sản: Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp phối hợp với Chi cục Thủy sản Cần Thơ bắt buộc 100% cơ sở sản xuất tại 8 khu công nghiệp tập trung (Trà Nóc, Hưng Phú, Thốt Nốt) phải xây dựng trạm xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra sông Hậu. Đồng thời, chuẩn hóa 12.550 ha diện tích nuôi trồng thủy sản theo tiêu chuẩn VietGAP và SQF 1000CM nhằm giảm 70% dư lượng hữu cơ xả thải vào năm 2020.

  4. Xây dựng và nhân rộng mô hình hợp tác xã dùng nước có sự tham gia của cộng đồng: Ủy ban nhân dân các quận, huyện thành lập các tổ chức hợp tác xã quản lý nước tại 85 xã, phường từ năm 2016. Thực hiện phân bổ hạn ngạch khai thác nước theo kịch bản mùa kiệt năm 2005, áp dụng chế tài thu phí bảo vệ môi trường đối với các đối tượng xả thải và nâng cao nhận thức cộng đồng nhằm giảm tỷ lệ thất thoát nước sạch sinh hoạt xuống dưới 15%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng và Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể sử dụng phương pháp luận cân bằng nước và bộ công cụ phần mềm GIS để hoạch định chính sách cấp phép khai thác, phân bổ chỉ tiêu nước mặt và xây dựng chiến lược ứng phó hạn mặn.

  • Các đơn vị tư vấn thiết kế và kỹ sư quy hoạch thủy lợi: Các kỹ sư công trình nước có thể ứng dụng trực tiếp các thông số kỹ thuật tiêu thoát chuẩn xác như hệ số tháo cạn vùng tôm-lúa 13,6 l/s/ha hay vùng nuôi tôm chuyên canh 36,3 l/s/ha để tính toán khẩu độ cống, kênh mương và thiết kế trạm bơm tưới tiêu hợp lý.

  • Các viện nghiên cứu, trường đại học, giảng viên và học viên cao học: Các nhà khoa học thuộc chuyên ngành Thủy văn, Kỹ thuật Tài nguyên nước, Quản lý Môi trường có thể kế thừa mô hình liên kết Cropwat 8.0 với mô hình thủy lực 1D và tiêu chí đánh giá Nash-Sutcliffe để mở rộng nghiên cứu sang các lưu vực sông khác.

  • Các doanh nghiệp cấp nước và ban quản lý khu công nghiệp: Công ty cấp nước đô thị và chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp tại Cần Thơ có thể dựa vào định mức nhu cầu nước chi tiết (30 đến 40 m³/ha/ngày cho công nghiệp và 120 đến 150 lít/người/ngày cho sinh hoạt) để lập dự án đầu tư nhà máy nước và hồ dự trữ ngọt phục vụ sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

Nguồn nước mặt sông Hậu có đảm bảo cung cấp đủ cho thành phố Cần Thơ trong mùa khô kiệt không? Hoàn toàn đủ khả năng đáp ứng. Lưu lượng mùa kiệt trên sông Hậu luôn đạt trên 1.000 m³/s nhờ 33% dòng chảy sông Tiền bổ sung qua Vàm Nao. Các nhánh sông Cần Thơ tiếp nhận lưu lượng 116,22 m³/s và sông Ô Môn đạt 59,42 m³/s, vượt xa tổng nhu cầu khai thác cực đại trong mùa khô của toàn thành phố.

Tại sao nhu cầu nước nông nghiệp lại giảm nhẹ trong giai đoạn 2012 đến 2020? Nhu cầu nước nông nghiệp giảm từ 1.551,77 triệu m³ xuống 1.477,75 triệu m³ do diện tích đất nông nghiệp (113.869 ha) bị thu hẹp dần bởi quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp. Đồng thời, thành phố chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang nông nghiệp đô thị công nghệ cao tiết kiệm nước tưới.

Hệ số tháo nước cho vùng nuôi tôm chuyên canh được xác định là bao nhiêu? Hệ số tháo cạn tính toán lớn nhất cho vùng thâm canh và bán thâm canh nuôi tôm là 36,3 l/s/ha, với lớp nước ao nuôi trung bình 1,40 m và lượng mưa ngày lớn nhất 162 mm. Nhằm giảm tải quy mô công trình kênh mương, giải pháp cấp thoát luân phiên trong 3 đến 5 ngày được khuyến nghị áp dụng.

Nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt lớn nhất tại Cần Thơ bắt nguồn từ đâu? Nguy cơ ô nhiễm chính đến từ nước thải nuôi thủy sản trên 12.550 ha chứa 70% đến 80% thức ăn dư thừa xả thẳng ra kênh rạch, kết hợp cùng nước thải sinh hoạt của hơn 1,22 triệu dân và nước thải từ 8 khu công nghiệp chưa được xử lý đồng bộ trước khi thải ra sông.

Phương án phân bổ nước ưu tiên ngành nào khi xảy ra hạn hán gay gắt? Khi xảy ra tình trạng hạn hán thiếu nước nghiêm trọng, thứ tự ưu tiên tuyệt đối được dành cho nước cấp sinh hoạt của người dân đô thị và nông thôn, tiếp theo là nước phục vụ chăn nuôi gia súc gia cầm, bảo vệ dòng chảy môi trường, sau đó mới phân bổ cho nông nghiệp, công nghiệp và du lịch.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng chính xác bức tranh cân bằng tài nguyên nước mặt thành phố Cần Thơ, với tổng nhu cầu nước 2.209 triệu m³ năm 2012 và duy trì ổn định đến năm 2020.
  • Xác định rõ sự chuyển dịch cơ cấu dùng nước với nhu cầu nước công nghiệp tăng vọt hơn 242% và dịch vụ du lịch tăng 280%, trong khi nông nghiệp giữ vai trò tiêu thụ lớn nhất chiếm trên 66% tổng lượng nước.
  • Chứng minh nguồn nước sông Hậu với lưu lượng mùa kiệt trên 1.000 m³/s hoàn toàn đảm bảo cấp nước thô cho toàn vùng nếu có phương án phân phối kênh trục hợp lý.
  • Đóng góp khoa học then chốt là xây dựng phần mềm chuyên dụng 9 chức năng trên nền tảng ArcGIS và Visual C# tích hợp cơ sở dữ liệu 38 điểm quan trắc, phục vụ số hóa công tác cấp phép và giám sát tài nguyên nước.
  • Đề xuất lộ trình nâng cấp hạ tầng thủy lợi 800 km kênh cấp hai, kiểm soát xả thải công nghiệp và nhân rộng mô hình quản lý nước cộng đồng giai đoạn 2016 đến 2020.

Các cấp chính quyền và cơ quan quản lý chuyên ngành cần sớm ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn quy hoạch đô thị và quản lý lưu vực để chủ động bảo vệ nguồn tài nguyên nước Cần Thơ trước thách thức biến đổi khí hậu.