Chương 1 T N QU N VẤN ĐỀ N H N C U6 1. Tình hình nghiên cứu Thú móng guốc trên Thế giới. Đặc điểm và hệ thống phân loại bộ móng guốc chẵn (Artiodactyla) Nhiều tác giả (Đặng Huy Huỳnh 1986 [22] Lekagul et al. 1988 [53], Hutchins et al.
2004 [51], Đặng Huy Huỳnh và cs. 2009 [26], Nguyễn Xuân Đặng và cs. 2009 [13], Đặng Huy Huỳnh và cs. 2008 [28]), thú MGC gồm các loài thú có kích thước cơ thể từ rất lớn tới trung bình.
Lớn nhất là Hà mã (Hippopotamus amphibius) nặng tới 4.500 kg và nhỏ nhất là Cheo cheo lưng bạc (Tragulus versicolor) nặng khoảng 1,5 - 2,5 kg. Các chân đều mang số ngón chẵn (2 hoặc 4 ngón) và có guốc. Thú MGC đi bằng đầu ngón chân thứ III và thứ IV nên các ngón này rất lớn và có kích thước gần bằng nhau. Ngón thứ nhất đã bị tiêu biến, ngón thứ II và thứ V bị tiêu giảm về kích thước.
Chỉ ở một số loài (họ Lợn Suidae) cả 4 ngón đều hoạt động, còn ở hầu hết các loài khác chỉ có 2 ngón (thứ III và IV) hoạt động, 2 ngón khác nhỏ và hầu như không chạm đất, trừ khi đất quá xốp. Thú MGC được chia thành 2 nhóm: nhóm có sừng và nhóm không có sừng. Nhóm không có sừng gồm các loài thuộc họ Cheo cheo (Tragulidae), họ Lợn (Suidae), họ Lợn Taya (Tayassuidae) và họ Hươu xạ (Moschidae). Các loài này có răng nanh phát triển dài để thực hiện chức năng bảo vệ thay cho sừng.
Nhóm có sừng bao gồm các họ còn lại. Tuy nhiên, kích thước và nguồn gốc sừng có khác nhau. Sừng của các loài họ Hươu nai (Cervidae) đặc và rụng hàng năm sau mỗi mùa động dục (còn gọi là gạc). Sừng của các loài họ Trâu bò (Bovidae) rỗng trong và không rụng, phát triển liên tục suốt đời.
Chức năng chủ yếu của sừng và răng nanh là làm vũ khí đấu tranh trong loài (tranh giành vị trí đầu đàn, tranh giành thú cái trong mùa động dục,.), sau đó mới đến chức năng chống lại thú ăn thịt hoặc các loài khác (Hutchins et al. Các cá thể đực thường c 4 có sừng hoặc răng nanh lớn hơn so với cá thể cái. Tùy loài, các cá thể cái có thể có sừng như ở họ Trâu bò hoặc không có sừng như ở họ Hươu nai. Bộ răng thích nghi với chế độ ăn của mỗi nhóm loài.
Lợn rừng có răng nanh trên rất dài, thò ra khỏi môi và mặt răng hàm có nhiều u, mấu nhỏ. Các loài nhai lại không có răng nanh trên, mặt răng hàm có nhiều gờ nhai sắc hình lưỡi liềm. Số lượng răng từ 32 - 44 chiếc. Tất cả các loài trong các họ Tragulidae, Moschidae, Cervidae và Bovidae đều không có răng cửa hàm trên.
Công thức răng: (i 0–3/3, c 0–1/1, pm 2–4/2–4, m 3/3) x 2 = 30–44. Thú MGC ăn thực vật và có dạ dày thích nghi với việc tiêu hóa chất xenluloza thực vật. Dạ dày được cấu tạo có 1 đến 3 ngăn, dạ dày giả nằm phía trước dạ dày thật (abomasum). Họ Lợn (Suidae) ăn tạp, dạ dày ít chuyên hoá, chỉ có 2 ngăn.
Các họ khác có dạ dày phức và ruột tịt nhỏ. Họ Cheo cheo (Traguliadae) có dạ dày 3 ngăn, các họ khác có dạ dày 4 ngăn. Trong dạ dày có hệ sinh vật và ký sinh trùng cộng sinh phong phú giúp phân hủy xeluloza. Đa số các loài có đặc điểm nhai lại thức ăn (Đặng Huy Huỳnh và cs, 1986 [22] và Lekagul B.
Theo Wilson và cộng sự (Wilson et al. 2005) [63], bộ móng guốc chẵn (Artiodactyla) có khoảng 240 loài thuộc 89 giống và 10 họ (Bảng 1.1: Thành phần loài bộ M C (Artiodactyla) trên thế giới TT Họ Số giống Số loài 1 Họ Lợn - Suidae 5 19 2 Họ Lợn Taya - Tayassuidae 3 3 3 Họ Hà mã - Hippopotamidae 2 2 4 Họ Lạc đà - Camelidae 3 4 5 Họ Cheo cheo - Tragulidae 3 8 6 Họ Hươu xạ - Moschidae 1 7 7 Họ Hươu nai - Cervidae 19 51 c 5 8 Họ Linh dương - Antilocapridae 1 1 9 Họ Hươu cao cổ - Giraffidae 2 2 10 Họ Trâu bò - Bovidae 50 143 Tổng 89 240 Một số tác giả (Simpson 1945, Mckenna et al 1997, Janis and Scott 1987, trong Lekagul et al. 1988) [53] chia bộ MGC thành 3 phân bộ: - Phân bộ Không nhai lại (Non-ruminantia) hoặc Phân bộ Lợn (Suina): Răng hàm có mấu, răng nanh lớn sinh trưởng liên tục, dạ dày đơn, ngón II và ngón V phát trển. Phân bộ này có 3 họ là họ Lợn (Suidae), Hà mã (Hippopotamidae) và họ Lợn Taia (Tayassuidae).
- Phân bộ Nhai lại (Ruminantia): Răng hàm có nếp sắc hình bán nguyệt, thiếu răng cửa và thường thiếu cả răng nanh. Dạ dày phức tạp chia 4 ngăn. Phân bộ này có 05 họ: họ Hươu nai (Cervidae), họ Hươu cao cổ (Giraffidae), họ Trâu bò (Bovidae), họ Cheo cheo (Tragulidae) và họ Linh dương (Antilocapridae). - Phân bộ Chân chai (Tylopoda): gồm các loài Lạc đà.
Thiếu răng nanh và răng cửa ở cả hai hàm, răng hàm có mặt nhai phẳng, dạ dày tương đối phức tạp. Ngón I, II và V thiếu. Chỉ có 1 họ Lạc đà (Camelidae) phân bố ở sa mạc Trung Á. Ba họ có số loài lớn nhất là: họ Trâu bò với 143 loài, họ Hươu nai với 51 loài và họ Lợn với 19 loài.
Các họ còn lại đều có dưới 10 loài. Wilson et al. Tình trạng bảo tồn của thú M C trên thế giới Các loài thú MGC có phân bố rộng trên thế giới. Chúng là loài bản địa ở tất cả các châu lục trừ châu Nam Cực, châu Úc và các đảo đại dương.
Ngày c 6 nay, do con người du nhập và thuần hóa nên các loài thú MGC có mặt cả ở nhiều đảo xa bờ không thuộc vùng phân bố tự nhiên của chúng (Hutchins et al. Tuy nhiên, do sự suy thoái sinh cảnh và săn bắt quá mức của con người, các loài thú MGC trên thế giới hiện nay đã bị suy giảm đáng kể cả về phạm vi phân bố và số lượng cá thể. Danh lục Đỏ IUCN (2015) [49] đã thống kê có 8 loài thú MGC đã bị tuyệt chủng và 122 loài khác (chiếm 54,6% tổng số loài hiện biết) đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau (Bảng 1.2): 11 loài ở mức "rất nguy cấp - CR", 40 loài ở mức "nguy cấp - EN", 33 loài ở mức "sẽ nguy cấp - VU", 20 loài ở mức "gần bị đe dọa – LR, nt" và 18 loài ở mức "thiếu dữ liệu - DD".2: Số lượng các loài thú M C bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu. Bậc đe dọa theo Danh lục Đỏ UCN* Tổng Tỷ lệ TT Họ EX EW CR EN VU LR,nt DD cộng (%) 1 Suidae 1 3 5 1 1 11 57,9 2 Tayassuidae 1 1 2 66,7 3 Hippopotamidae 1 1 2 100 4 Camelidae 1 1 25 5 Tragulidae 1 3 4 50,0 6 Moschidae 6 1 7 100 7 Cervidae 1 1 1 7 16 2 10 38 74,5 8 Antilocapridae 0 0 9 Giraffidae 1 1 50,0 10 Bovidae 4 1 8 20 19 17 4 73 51,0 Tổng cộng 6 2 11 40 33 20 18 131 54,6 Ghi chú: EX - tuyệt chủng, EW - tuyệt chủng trong thiên nhiên, CR - rất nguy cấp, EN - nguy cấp, VU - Sẽ nguy cấp, RL, nt - gần bị đe dọa, DD - thiếu dữ liệu.
*Nguồn: Danh lục Đỏ IUCN 2015. c 7 Như vậy, có đến 54,6% tổng số loài thú MGC hiện biết đã tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu. Trừ họ Linh dương (Atilocapridae), tất cả các họ thú MGC đều có tỷ lệ phần trăm số loài bị đe dọa tuyệt chủng cao, từ 25% (Camelidae) đến 50-60% (Tragulidae, Girafidae, Bovidae, Suidae), 60 - 75% (Tayassuidae, Cervidae) và 100% (Hippopotamidae, Moschidae). Các họ có số loài bị đe dọa nhiều nhất là: Bovidae (73 loài), Cervidae (38 loài) và Suidae (11 loài).
Nghiên cứu về giống Mang trên Thế giới. Mang thuộc giống Muntiacus thuộc họ Hươu nai (Cervidae) là 1 trong 5 họ của Bộ Móng guốc chẵn (Artiodactyla) (Nguyễn Xuân Đặng và cs. Trên Thế giới đã ghi nhận giống Mang (Muntiacus) bao gồm 13 loài có vùng phân bố rộng từ Ấn Độ đến Inđônêsia [64]. Những loài thú có kính thước từ nhỏ đến trung bình này có nhiều đặc điểm khác biệt về kích thước, mầu sắc và kiều sừng giữa các loài.
Loài có kích thước lớn nhất là loài Mang lớn (M. Vuquangensis) có trọng lượng khoảng 30-50 kg trong khi loài Mang Putao (M. Putaoensis) chỉ nặng khoảng 12kg [31]. Giữa các loài Mang còn có sự khác biệt rất lớn về số lượng các nhiễm sắc thể, chẳng hạn như Mang Reeves (M.
reevesi) có 46 nhiễm sắc thể trong khi đó Hoẵng vó vàng (M. vaginalis) chỉ có 6 nhiễm sắc thể [33] [34]. Trong những năm gần đây số lượng loài của nhóm này đã tăng lên đáng kể do có nhiều điều tra và phát hiện mới ở vùng Đông Nam Á. Cụ thể là ở Việt Nam, trong vòng 15 năm trở lại đây, bốn loài Mang đã được tìm thấy ở Việt Nam hoặc dưới dạng loài mới hoặc được xác nhận là có ở trong nước [30] [24] [29].
Tất cả những loài này đều được phát hiện tại các khu rừng thường xanh vùng núi của dãy Trường Sơn [28] [31]. Những phát hiện này cùng với những thông tin trước đó về các loài đặc hữu của khu vực này, trong đó có chim, linh trưởng và cây lá kim cho thấy dãy Trường Sơn, một khu vực rất đáng quan tâm đối với bảo tồn và đã được đưa vào danh sách 200 khu hệ c 8 sinh thái quan trọng nhất thế giới của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Thế giới WWF, có thể là nơi cư trú cho nhiều loài đặc hữu [50]. Ở khắp các vùng có mang phân bố, các nghiên cứu về nhóm động vật này được thực hiện tương đối đầy đủ và chi tiết bao gồm cả nghiên cứu về phân loại học, di truyền, phân bố và sinh học sinh thái. Tuy nhiên ở rất ít nghiên cứu được thực hiện ở khu vực Đông dương, các nghiên cứu chỉ thực hiện tập trung trong các năm 1990 đến 1999 và gần như bị bỏ quên từ đó cho đến nay [14].
Tình hình nghiên cứu về thú M C ở Việt Nam. Nghiên cứu thú MGC ở Việt Nam được bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cùng với lịch sử nghiên cứu thú (Mammalia) của Việt Nam (Đặng Huy Huỳnh và cs. Trước năm 1955, chỉ có các cuộc khảo sát của các nhà nghiên cứu nước ngoài nhằm phát hiện và mô tả các loài thú ở Việt Nam.