CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về hiện trạng môi trường bụi PM2. Khái niệm về bụi Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO và Liên minh Châu Âu EU, bụi PM (particulate matter) được định nghĩa là một chất gây ô nhiễm không khí trên diện rộng, bao gồm một hỗn hợp của các hạt ở thể rắn và thể lỏng lơ lửng ở trong không khí. Đặc tính và sự hình thành bụi PM2.5 Bụi PM là một trong những chất ô nhiễm chính trong môi trường không khí, được phát thải trực tiếp vào không khí hoặc được hình thành trong khí quyển quá trình ôxy hóa và biến đổi từ các chất khí ô nhiễm thứ cấp (hay còn được gọi là khí tiền thân).
Sau khi được hình thành từ các chất ô nhiễm thứ cấp tạo ra các hạt sơ cấp. Các chất khí ô nhiễm (chất ô nhiễm thứ cấp) đóng góp, hình thành nên PM (hạt sơ cấp) thường là SO2 (sulfur dioxide), NOx (các hợp chất oxit nitơ ví dụ như NO và NO2), NH3 (Amoniac) và VOCs (Các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi) [8]. Các khí tiền thân chính như SO2, NOx, NH3 phản ứng trong khí quyển và tạo thành NH4+ (amoni) và các hợp chất khác của SO42+ (sunphat) và NO3- (nitrat) được gọi là sol khí vô cơ thứ cấp (Secondary Inorganic Aerosol - SIA); VOCs bị ôxy hóa để giảm thành phần dễ bay hơi và hình thành lên sol khí hữu cơ thứ cấp (Secondary Organic Aerosol - SOA) rồi sau đó ngưng kết thành vật chất hạt mới trong khí quyển.5 được hình thành do phản ứng hóa học, phản ứng hạt nhân, sự ngưng tụ và bay hơi của các chất khí trong điều kiện thuận lợi [9; 10]. Thành phần cấu tạo bụi PM2.5 bao gồm các chất như: sunphat, nitrat, amoni, H+, nguyên tố cacbon, các hợp chất hữu cơ (PAHs, PCBs), các kim loại như As, Pb, Zn., phụ thuộc vào nguồn gốc phát sinh ra bụi (đốt cháy nhiên liệu, quá trình nhiệt phân.
Nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về bụi a) Nghiên cứu về bụi PM trên thế giới Bụi là nguyên nhân chính trong ô nhiễm không khí, đặc biệt là bụi PM2. Các tiêu chuẩn bụi PM2.5 trong không khí của WHO, EPA hay một số nước Châu 3 Âu đều biến thiên theo thời gian, bắt đầu từ năm 1971 và thay đổi theo thời gian. Theo đó, hàm lượng bụi PM2.5 trong không khí theo quy chuẩn giảm dần theo thời gian, điều này cho thấy tác hại của bụi PM2.5 đối với sức khỏe con người nghiêm trọng đến mức nào [3]. Theo Báo cáo Chất lượng Không khí Thế giới năm 2021 cho thấy chỉ có 3% thành phố và không một quốc gia nào đáp ứng hướng dẫn chất lượng không khí hàng năm mới nhất của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (PM2.
Báo cáo cho thấy chỉ 222/ 6.475 thành phố toàn cầu đáp ứng hướng dẫn PM2.5 của WHO; 93 thành phố có nồng độ PM2.5 hàng năm vượt 10 lần so với tiêu chuẩn WHO. Trong số 174 thành phố ở Mỹ Latinh và Caribe, chỉ có 12 (7%) đáp ứng tiêu chuẩn PM2. Trong số 65 thành phố của Châu Phi, chỉ một (1,5%) đáp ứng được tiêu chuẩn cập nhật hàng năm về PM2.887 thành phố ở Châu Á, chỉ có bốn (0,2%) đáp ứng được tiêu chuẩn cập nhật về PM2.588 thành phố ở Châu Âu, chỉ 55 thành phố (3%) đáp ứng tiêu chuẩn PM2.408 thành phố ở Hoa Kỳ và cho thấy nồng độ PM2.5 trung bình đã tăng từ 9,6 µg/m3 lên 10,3 µg/m3 vào năm 2021 so với năm 2020. Trong số các thành phố lớn ở Hoa Kỳ, Los Angeles là nơi bị ô nhiễm nặng nhất.
Tuy nhiên, Thành phố của những thiên thần đã chứng kiến mức ô nhiễm PM2.5 tổng thể giảm 6% so với năm 2020. Năm quốc gia ô nhiễm bụi PM2.5 nhất vào năm 2021 là: Bangladesh; Chad; Pakistan; Tajikistan; Ấn Độ. Kết quả quan trắc trong giai đoạn 2016 - 2018 cho thấy, ô nhiễm bụi mịn (PM2.5) ở nhiều thành phố lớn của châu Á là khá nghiêm trọng. Kết quả quan trắc PM2.5 tại 15 thành phố đều có giá trị PM2.5 trung bình năm vượt quá giới hạn do WHO đưa ra là 25 μg/m3.
Tỉ lệ số ngày có trung bình 24 giờ vượt quá giới hạn của WHO tại nhiều thành phố cũng ở mức cao. Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm bụi PM2.5 tại các thành phố cũng khác nhau, TP. Hồ Chí Minh có mức độ ô nhiễm thấp nhất, New Delhi là thành phố có mức độ ô nhiễm bụi PM2.5 lớn nhất, Hà Nội xếp thứ 10 4 và 11 (tùy theo từng năm) trên tổng số 15 thành phố. Theo dõi diễn biến trong giai đoạn 2016 – 2018 cho thấy, một số TP như Bắc Kinh, Thẩm Dương, Thành Đô, Thượng Hải (Trung Quốc), Hà Nội (Việt Nam), nồng độ bụi PM2.5 đã có xu hướng giảm [4].
Xếp hạng mức độ ô nhiễm bụi PM2.5 tại một số TP châu Á [4] Thành phố 2016 2017 2018 New Delhi 1 1 1 Dhaka 6 2 2 Calcutta 2 3 3 Mumbai 9 4 4 Ulaanbaatar 5 6 5 Thành Đô 4 5 7 Hyderabad 8 7 6 Bắc Kinh 3 8 8 Thẩm Dương 7 9 10 Hà Nội 10 10 11 Jakarta 12 14 9 Thượng Hải 11 11 12 Quảng Châu 14 12 13 Chennai 13 13 14 TP. Hồ Chí Minh 15 15 15 Từ những số liệu trên cho thấy 90% dân số thế giới đang hít phải không khí không lành mạnh. Đây cũng là nguyên nhân gây ra sự gia tăng các ca bệnh liên quan được đề cập trong phần sau. b) Tình hình nghiên cứu về bụi ở Việt Nam Trong những năm qua, tình trạng ô nhiễm không khí do bụi PM2.5 tại nhiều tỉnh, thành phố ở Việt Nam đều vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh (QCVN 05:2013 - Quy chuẩn Kỹ 5 thuật Quốc gia về Chất lượng không khí xung quanh).
Theo chỉ số hiệu quả môi trường (EPI) năm 2020 của Đại học Yale, phơi nhiễm với ô nhiễm không khí ở Việt Nam xếp hạng 115/180 quốc gia. Trên bảng xếp hạng IQir/AirVisual, nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm 2020 của Việt Nam cao thứ 21 trong danh sách 106 quốc gia [1]; Ngày 1/12/2020, một nhóm nhà khoa học đã công bố báo cáo về hiện trạng bụi PM2.5 cho tất cả 63 tỉnh/thành trên cả nước trong giai đoạn 2019-2020, chỉ ra các tỉnh thành có nồng độ bụi trung bình năm vượt quá quy chuẩn quốc gia. Năm 2019, con số này là 13 tỉnh thành, bao gồm 11 tỉnh thành tại miền Bắc, và 2 tỉnh thành tại miền Nam. Theo đó, năm 2020 Việt Nam có 10/63 tỉnh, thành phố có nồng độ bụi PM2.5 vượt quy chuẩn quốc gia là (theo thứ tự giảm dần): Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Bình, Vĩnh Phúc.
Dưới đây là hình ảnh hàm lượng bụi PM2.5 trong không khí ở Việt Nam và Hà Nội Hình 1. Hàm lượng bụi PM2.5 trong không khí Việt Nam 6 Hình 1. Hàm lượng bụi PM2.5 trong không khí ở Hà Nội Ở Hà Nội, một số nghiên cứu về bụi PM2.5 trong không khí được tiến hành. Một nghiên cứu của TS.
Nguyễn Thị Phương Mai vào năm 2015 cho thấy hàm lượng PM2.5 trong không khí là 111,763 µg/m3, cao hơn 2,2 lần so sánh với QCVN 05:2013/BTNMT (50 µg/m3 trong 24 giờ) [11]. Sự thay đổi nồng độ PM2.5 theo mùa cũng được khảo sát, số liệu chỉ ra vào mùa hè, nồng độ PM2.5 µg/m3) khoảng 2,5 lần so với mùa đông (50. Ảnh hưởng của bụi đến sức khỏe con người Đối với bụi PM, kích thước hạt đóng vai trò rất quan trọng, nó xác định thời gian trở lại khí quyển và xác định khả năng đi sâu vào khu vực phổi. Kích thước càng nhỏ tỉ lệ với khả năng xâm nhập sâu vào trong phổi hoặc thâm chí vào trong máu gây ra các vấn đề nghiêm trọng tới sức khỏe.
Theo WHO, bụi PM10 và PM2.5 làm tăng khả năng ung thư và gây ra bệnh về đường hô hấp. Ô nhiễm bụi làm tăng số người mắc bệnh hen suyễn, viêm phế quản, bệnh phổi mãn tĩnh, các bệnh tim mạch và suy yếu dung tích phổi ở trẻ em. Hàng năm trên thế giới có khoảng 2 triệu ca chết sớm do bị ô nhiễm không khí đô thị và ô nhiễm không khí trong nhà, trong đó có hơn 50% là ở các quốc gia đang phát triển [13]. 7 Tổ chức Regional Office for Europe đã chỉ ra rằng việc tiếp xúc lâu dài với các hạt bụi mịn PM2.5 có nguy cơ gây ảnh hưởng tới sức khỏe mạnh mẽ hơn so với các hạt thô (các hạt bụi PM có đường kính từ 2.
Tất cả các nguyên nhân tử vong sớm được ước tính gia tăng 0,2 – 0,6% khi tăng mỗi 10 µg/m3 của bụi PM10 [13]. Việc tiếp xúc với bụi PM gây ảnh hưởng đến sự phát triển cũng như giảm chức năng phổi ở trẻ em. Các nhà khoa học đã ước tính có khoảng 3% bệnh nhân bị ung thư liên quan đến tim phổi và 5% các ca tử vong do ung thư phổi trên toàn cầu là do tiếp xúc với bụi PM. Tại khu vực Châu Âu, tỷ lệ này là 1 - 3% và 2 - 5% tương ứng đối với các vùng khác nhau [13].
Tiếp xúc nhiều với bụi PM2.5 có thể làm giảm tuổi thọ trung bình của dân số trong vùng ô nhiễm trung bình khoảng 8,6 tháng. Kết quả từ dự án khoa học về “Nâng cao kiến thức và Truyền thông về ô nhiễm không khí và sức khỏe” ở châu Âu (Aphekom), cho thấy tuổi thọ trung bình ở những thành phố ô nhiễm nhất có thể tăng khoảng 20 tháng nếu nồng độ PM2.5 giảm xuống dưới mức quy định theo như hướng dẫn của WHO [14]. Hiện nay, không đủ bằng chứng để xác định sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe của các loại bụi PM có thành phần hóa học khác nhau hay được phát thải ra từ các nguồn khác nhau. Tuy nhiên, cần phải lưu ý bụi PM được phát thải từ hoạt động đốt cháy nhiên liệu (cả nguồn di động và cố định) có sự ảnh hưởng tới sức khỏe mạnh mẽ hơn so với bụi PM được phát thải ra từ các nguồn khác [15].
Tổng quan về PCBs 1. Khái niệm về PCBs PCBs là một trong 22 nhóm chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP) được quy định trong công ước Stockholm, sẽ được dừng sử dụng vào năm 2020 và tiêu hủy an toàn vào năm 2028 tại Việt Nam [2] PCBs là từ viết tắt của cụm từ tiếng Anh Polychlorinated Biphenyls, là một nhóm hợp chất thơm của halogen, được tạo thành khi thay thế từ 1 đến 10 nguyên tử hydro trong phân tử biphenyl bằng các nguyên tử clo.