Chương 1: Đặt vấn dé. Giới thiệu về dé tài nghiên cứu, mục đích, nội dung và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Khái niệm về phát triển bén vững.
Tổng quan về tình hình sắn xuất, đời sống của cư dân ven biển tỉnh Bạc Liêu và các chỉ tiêu, phương pháp được sử dụng phân tích. Chuơng 3: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu. Giới thiệu khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Bạc Liêu. Qua đó nêu lên được những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất cũng như đời sống của người dân.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này nhằm xác định kết quả, hiệu quả sắn xuất tôm, lúa của địa phương, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất của ho. Từ đó, dé ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu qua sản xuất, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững. Đồng thời chương này còn nghiên cứu về thực trạng đời sống của người dân ven biển và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao đời sống cho người dân.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Tóm lược các kết quả nghiên cứu về hiệu quả sản xuất và đời sống của người dân ven biển tỉnh Bạc Liêu. Dé xuất và kiến nghị. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phát triển bền vững Theo Ủy Ban Thế Giới về Môi Trường và Phát Triển, “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại nhưng không tổn hại cho khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng yêu cầu của chính họ.” Theo Nghị trình 21 hay còn gọi là Agenda 21 (Action Plan for Sustainable Development for the 21st Century) của Liên Hiệp Quốc, “Sự bên vững là quyển phát triển của mỗi quốc gia cùng tuân thủ theo những tiêu chuẩn giống nhau đã được đồng thuận trước đây, trong đó nhu cầu của hiện tại và tương lai phải phù hợp với những yêu cầu cho phát triển và môi trường”.
Võ Quý (Đại Học Quốc Gia Hà Nội) phát triển bén vững là: Phát triển bén vững = Phát triển kinh tế + Bảo vệ môi trường + Công bằng xã hội. Phát triển kinh tế Phát triển bén vững về mặt kinh tế nghịch với gia tăng sản xuất không giới hạn, chỉnh phục thị trường bằng moi cách, thương mại hóa và tìm lợi nhuận tối đa. Phát triển bén vững kinh tế. đòi hỏi gắn lién với hiệu quả, nghĩa là sự phát triển kinh tế phải có lợi nhuận cao, nhịp độ tăng trưởng thích hợp, ổn định trong thời gian dai, không tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên, con người cho giai đoạn phát triển sau và phù hợp với định hướng phát triển của quốc gia.
Phát triển xã hội Phát triển bền vững xã hội là sao cho người dân có việc làm ổn định, thu nhập ổn định, giải quyết nhà ở và các phúc lợi xã hội, đây là vấn để có ý nghĩa thiết thực đến đời sống vật chất của cộng đồng. Phát triển bén vững vé mặt xã hội có nghĩa con người có môi trường sống hài hòa, công bằng và có an sinh. Ổn định môi trường Phát triển bén vững về phương diện môi trường là phải bảo vệ khả năng tái sinh của hệ sinh thái, nhịp độ gia tăng sử dụng tài nguyên có khả năng tái sinh phải thấp hơn tốc độ tái sinh, việc sử dụng tài nguyên không có khả năng tái sinh phải tuỳ thuộc khả năng sáng chế tư liệu thay thế. Sau cùng, mức độ ô nhiễm phải thấp hơn khả năng tái tạo của môi trường, môi sinh.
Kinh tế chỉ là một bộ phận của hệ sinh thái và phát triển kinh tế phải bảo toàn sự cân bằng sinh thái. Ngoài ra phát triển bén vững còn là sự phát triển thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại khả năng thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai. Muốn dam bảo cho phát triển được lâu bén, các nhu cầu xã hội, môi trường, kinh tế phải được tổng hòa và đáp ứng một cách cân đối với nhau.2 Phát triển nuôi trồng thủy sản hiệu quả - bền vững Để phát triển nuôi tôm bền vững ở Việt Nam cũng như vùng Nam lộ tỉnh Bạc Liêu, cần chọn cách thức canh tác phù hợp với điều kiện sinh thái, d4m bao có lời trong hiện tại và tương lai. Muốn vậy cần phải tiến hành điều tra, nghiên cứu và tổng hợp cân đối giữa các chính sách quan lý, chính sách kinh tế — xã hội, kỹ thuật nuôi, khoa học ứng dụng,.
Hiện tại ở Việt Nam nói chung và vùng tiến hành nghiên cứu nói riêng, nghề nuôi tôm chủ yếu vẫn là tự phát, vượt quá mức và không theo quy hoạch, ranh giới giữa thành công và thất bại rất mong manh. Thật vậy, theo nguồn tin thu thập được từ mang internet, vào tháng 3/2004 việc thả giống ở ĐBSCL đã hoàn tất thì có đến 70% diện tích tôm giống bị chết phải thả đợt hai, tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế,.đã có 380 ha hổ nuôi tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng với số lượng tôm chết từ 70% - 100%. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tôm chết hàng loạt được các nhà chức năng xác định là do thời tiết diễn biến phức tạp, nguồn nước bị ô nhiễm nặng, con giống không đạt yêu cầu, người nuôi tôm đã thả nuôi sớm hơn thời gian quy định. Cũng vào tháng 3/2004 tại Long An, dịch bệnh tôm sú đã gây thiệt hại đến 10 tỷ đồng.
Như vậy làm thế nào để vừa có thể nuôi tôm đạt hiệu quả cao lại vừa đảm bảo tính bên vững? Thông thường dé đạt hiệu quả trong NTTS, người ta có xu hướng thâm canh hóa, tăng sản lượng, tăng lợi tức trên một đơn vị diện tích. Tuy nhiên, thâm canh hóa không thể đảm bảo tính bển vững do sử dụng nguồn tài nguyên quá mức, gây ảnh hưởng đến sự cân bằng nguồn lợi ở thế hệ này và cho thế hệ mai sau. Do vậy, phương thức NTTS hiệu quả, bén vững đời hỏi mỗi việc đầu tư để đạt hiệu quả đều phải cân nhắc đến sự cân bằng của các yếu tố sinh thái tự nhiên. Hiệu quả ở đây mang tính tương đối, mang tính chiến lược lâu dài, chứ không phải là hiệu quả trước mắt.
Do đó, chúng ta có thể phát triển thủy sản hiệu quả và bền vững trên quan điểm khai thác có cơ sở khoa học nguồn tài nguyên tương đối hạn chế của chúng ta. Làm thế nào cho nguồn tài nguyên này có thể tái tạo lại, bù đắp lại cái mà các giải pháp kỹ thuật chúng ta đã khai thác nó. Trên thực tế, mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến, với hệ thống canh tác mà trong đó người ta cân bằng sinh thái bằng cách chỉ thả tôm giống và sử dụng thức ăn tự nhiên trong thủy vực rồi thu hoạch tôm. Sau vụ tôm người dân sẽ nuôi một vụ cá hoặc trồng một vụ lúa chẳng han, để làm cho hệ sinh thái cân bằng trở lại.
Thế nhưng xét trên khía cạnh hiệu quả tính trên một đơn vị điện tích hiện tại thì lại thấp hơn so với thâm canh 2 — 3 vụ tôm/năm. Do đó để khuyến khích người dân nuôi theo phương thức bên vững là rất khó, phải cần thời gian. Hiện nay, tại khu vực ven biển Nam Trung bộ tình hình nuôi tôm có xuất hiện những dấu hiệu khởi đầu cho một sự thoái hóa. Ở đây, do diện tích hẹp và điều kiện tự nhiên không được thuận lợi nên hình thức nuôi chủ yếu là bán thâm canh và thâm canh, do vậy hiện tượng tôm chết kéo dài và lan rộng đang diễn ra ở vùng này.
Ở ĐBSCL nuôi tôm với nhiều hình thức khác nhau gồm quảng canh cải tiến, bán công nghiệp, công nghiệp và vấn để thoái hóa môi trường cũng đang diễn ra. Theo nguồn tin từ mạng internet, tại Thái Lan, diện tích NTTS không lớn, không quá 50.000 ha, thế nhưng Thái Lan lại đứng đầu trong ngành sản xuất tôm thế giới với sản lượng trên 200. Phương thức sản xuất của Thái Lan là không cho mở rộng diện tích nhưng thâm canh hóa trên một diện tích đã được xác định, được tính toán cân bằng với hệ sinh thái chung. Sở dĩ diện tích thâm canh hóa phải được quy hoạch và phải cân đối với tổng diện tích tự nhiên vì có như vậy mới có thể làm sạch khối lượng bẩn do mô hình nuôi tôm công nghiệp sinh ra, nếu không, việc nuôi tôm công nghiệp sẽ làm thoái hóa bản thân môi trường ao chính nó, đồng thời sẽ làm thoái hóa và ô nhiễm môi trường xung quanh.
Do đó, nếu duy trì được một tỷ lệ thích hợp giữa hoạt động NTTS với điều kiện tự nhiên thì có thể duy trì được sự hiệu quả và cân bằng trong nuôi tôm. Riêng Việt Nam chúng ta không thể làm như Thái Lan được vì việc phát triển NTTS ở Việt Nam có tính cách “quần chúng”. Hàng triệu ngư dân, nông dân đang tham gia vào hoạt động NTTS này với cơ sở hạ tầng chưa được phát triển, trình độ dân trí, các hoạt động dịch vụ hậu can cho nghề nuôi thủy sản của chúng ta cũng ở mức hạn chế. Với số lượng lớn người dân tham gia vào NTTS, chúng ta không thể thu hẹp diện tích để thâm canh hóa được, do đó bước di của chúng ta phải khác với Thái Lan.
Chúng ta lựa chọn hình thức mở rộng diện tích nuôi nhưng phải giảm mức độ thâm canh hóa ở mô hình này để tạo ra được sự cân bằng giữa khai thác và phục hổi hệ sinh thái ven biển. Với mô hình này sẽ tạo ra một sản phẩm sạch, sản phẩm sinh thái nếu giải quyết tốt các vấn dé quan lý.3 Tổng quan về tình hình sản xuất và đời sống của người dân ven biển ở Đông Bằng Sông Cửu Long Khu vực ven biển Đồng Bằng Sông Cửu Long gồm các tỉnh Bến Tre, Long An, Tién Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang, có tiêm năng lớn về phát triển nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ và nước ngọt, đặc biệt nuôi tôm với đối tượng là tôm sú. Đặc điểm thổ nhưỡng của khu vực là đất nhiễm mặn do địa hình lòng chảo cao dẫn ra hướng bờ biển. Vì vậy, ảnh hưởng của thủy triéu có thể xâm nhập rất sâu vào nội địa trong mùa khô, gây khó khăn cho việc chuyên canh cây lúa nhưng là diéu kiện thuận lợi để nuôi tôm nước lợ; vào mùa mưa, nước được ngọt hóa phù hợp để trồng lúa.
Như vậy, trong một năm phương thức canh tác phù hợp, có hiệu quả cao ở khu vực này là luân canh nuôi một vụ tôm, trồng một vụ lúa.