Chương 1. Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài Chương 2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận n 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Phân loại cây chè Theo Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương (2000) [39] thì, tên khoa học của cây chè lần đầu tiên được nhà Bác học người Thuỵ Điển Line đặt là Thea sinensis vào năm 1753. Sau đó có nhiều cách đặt tên cho cây chè nhưng tên khoa học của cây chè được nhiều người công nhận nhất là: Camellia sinensis [L] O. Trong hệ thống phân loại thực vật chè được xếp loại như sau: - Ngành hạt kín : Angiosepermae - Lớp 2 lá mầm : Dicotyledonea - Bộ chè : Theales - Họ chè : Theaceae - Chi chè : Camellia (Thea) - Loài : Sinensis Dựa trên đặc điểm các cơ quan dinh dưỡng (thân, lá, búp.), cơ quan sinh thực (cánh hoa, đài hoa, nhị, nhuỵ, hoa, quả.) và đặc tính sinh hoá (hàm lượng Tanin, Cafein.) các nhà khoa học trên thế giới đã có nhiều bảng phân loại chè.
Bảng phân loại được nhiều người công nhận nhất là bảng phân loại của Cohen Stuart (1919); Tác giả đã chia Camellia Sinensis (L) O. Kuntze làm 4 thứ chè chính sau: - Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Sinensis var bohea) Chè Trung Quốc lá nhỏ có đặc điểm là thân bụi, phân cành nhiều, cành thấp, lá nhỏ dày, gân lá không rõ, răng cưa nhỏ không đều, đầu lá tròn, búp nhỏ, năng suất không cao, chất lượng bình thường, nhiều hoa, quả, có khả năng chịu rét tốt. n 7 Chè Trung Quốc lá nhỏ phân bố nhiều ở miền Đông, Đông nam Trung Quốc, Nhật Bản. Ở Việt Nam chè Trung Quốc lá nhỏ có thể tìm thấy ở Lạng Sơn, Phú Hộ (Phú Thọ).
Ngày nay chè Trung Quốc lá nhỏ được sử dụng làm vật liệu lai tạo chọn ra những giống có khả năng chịu rét, những giống thích hợp cho chế biến chè xanh, được trồng nhiều ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Việt Nam. - Chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis var macrophylla) Chè Trung Quốc lá to thuộc dạng thân gỗ nhỏ, phân cành mau, lá to, trung bình dài 12 - 15cm, rộng 5 - 7cm, răng cưa sâu không đều, đầu lá nhọn, búp to trung bình có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp cho cả chế biến chè xanh và chè đen. Chè Trung Quốc lá to có khá nhiều hoa, quả, có khả năng chịu đất xấu. Nguyên sản của chè Trung Quốc lá to là ở Vân Nam, Tứ Xuyên - Trung Quốc.
Ở Việt Nam chè trung Quốc lá to phân bố nhiều ở các tỉnh Trung du như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái. nên còn được gọi dưới tên khác là chè Trung Du. - Chè Shan (Camellia Sinensis var Shan) Chè Shan có đặc điểm là thân gỗ, phân cành thưa, trong điều kiện tự nhiên có thể cao từ 6 - 10m, lá to dài, có nhiều răng cưa sâu đều, đầu lá nhọn, búp to, có nhiều lông tơ trắng mịn, trông như tuyết cho nên chè Shan còn được gọi là chè Tuyết. Chè Shan có thể cho năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp cho cả chế biến chè xanh và chè đen.
Chè Shan ít hoa, quả hơn chè Trung Quốc lá to, phân bố ở địa hình núi cao, ẩm, mát. Nguyên sản của chè Shan là Vân Nam (Trung Quốc), Mianma. Ở Việt Nam, chè Shan có nhiều ở vùng núi phía Bắc, ở cao nguyên Lâm Đồng với nhiều tên gọi khác nhau như chè Shan Mộc Châu, Shan Tham Vè, Shan Trấn Ninh. n 8 - Chè Ấn Độ (Camellia Sinensis var Assamica) Là loại chè có dạng thân gỗ cao, to, lá to mặt lá gồ ghề, nhiều gợn sóng, dạng lá bầu dục, búp to, có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp cho chế biến chè đen và chè xanh.
Chè Ấn Độ ít hoa, quả, chịu rét kém, được trồng nhiều ở Ấn Độ, Mianma, Vân Nam (Trung Quốc). Ở Việt Nam, chè Ấn Độ được trồng nhiều ở Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang, Thái Nguyên. từ chè Ấn Độ các nhà khoa học Việt Nam đã chọn ra giống PH1, là giống có tiềm năng cho năng suất cao. Cơ sở lựa chọn giống chè tốt Theo Lê Tất Khương và cs (1999) [27], Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo (2006) [22], Dự án phát triển chè và cây ăn quả (2002) [13], giống chè được xác định là giống chè tốt tại một vùng phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây: - Có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt và thích ứng mạnh với điều kiện ngoại cảnh của vùng sinh thái đem trồng.
Năng suất giống mới phải cao hơn giống địa phương ít nhất là 15% và ổn định. - Có chất lượng cao hơn giống địa phương và phải phù hợp với yêu cầu công nghệ chế biến hiện tại (chè đen, chè xanh hoặc chè ô long.) và yêu cầu của thị trường. - Có khả năng chống chịu sâu bệnh, đặc biệt với những loài sâu bệnh hại chè nghiêm trọng, có phạm vi và mức độ thiệt hại lớn tới sản xuất chè của vùng. - Giống chủ yếu phải được nhân vô tính, phổ biến nhất hiện nay là biện pháp giâm cành chè trong túi bầu đất.
Cơ sở nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của cây chè 1. Một số đặc điểm hình thái của cây chè Đặc điểm về hình thái của cây chè có liên quan đến các đặc trưng của giống, căn cứ vào đó người ta có thể phân biệt được các giống và từ đó có thể n 9 chọn lựa ra được các giống có khả năng cho năng suất cao chất lượng tốt, một số các đặc điểm đó là thân, cành, lá và búp chè. Theo các tác giả Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương (2000) [39], Lê Tất Khương và cs (1999) [27] thì hình thái của cây chè có đặc điểm cụ thể như sau: a. Thân chè Cây chè là cây đơn trục, thân thẳng, phân nhánh liên tục tạo thành hệ thống cành chồi trên cây và hình thành nên tán cây.
Tùy theo chiều cao phân cành, kích thước thân chính và các cành chè mà người ta chia thân chè làm 3 loại sau: - Thân bụi (biến chủng chè Trung Quốc lá nhỏ): Cây chè không có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành thấp, sát với cổ rễ. Cành nhỏ, tán chè có dạng bụi, phân cành nhiều, tán rộng, thấp. - Thân gỗ nhỡ (bán thân gỗ - biến chủng chè Trung Quốc lá to): là loại hình trung gian có thân chính tương đối rõ, vị trí phân cành thường cách mặt đất từ 20 - 30 cm. Điển hình là chè Trung Quốc lá to, ở Việt Nam là chè Trung Du.
- Thân gỗ (biến chủng chè Ấn Độ, chè Shan): Là loại hình cây cao to, thân chính rõ ràng, vị trí phân cành cao. Bộ khung tán do thân và cành tạo nên, phản ánh rõ khả năng cho năng suất của mỗi giống chè, tán cây càng to, càng tốt. Sinh trưởng của bộ khung tán được biểu hiện qua các chỉ tiêu về hình thái của cây. Căn cứ vào dạng thân người ta bố trí các mật độ khác nhau cho phù hợp, người ta thường bố trí thân bụi với mật độ dày hơn, sau đó đến thân gỗ nhỡ và cuối cùng thưa nhất là thân gỗ.
Cành chè Cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành. Tùy theo vị trí tương đối của cành chè với thân chính mà người ta chia ra các cấp cành: cành cấp 1, n 10 cấp 2, cấp 3. Cành cấp 1 được mọc ra từ thân chính, cành cấp 2 được mọc ra từ cành cấp 1, cành cấp 3 được mọc ra từ cành cấp 2… Thân và cành chè tạo nên bộ khung tán của cây chè. Với lượng cành chè thích hợp và cân đối trên tán chè cây chè sẽ cho sản lượng cao, vượt quá giới hạn đó sản lượng chè không tăng mà phẩm chất búp giảm do có nhiều búp mù xòe.
Do vậy trong sản xuất người ta áp dụng các biện pháp đốn, hái hợp lý để tạo cho cây chè có bộ khung tán to, khỏe, nhiều búp, có khả năng cho năng suất búp cao. Búp chè Búp chè là một đoạn non của cành chè được hình thành từ các mầm dinh dưỡng. Búp chè trong quá trình sinh trưởng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố ngoại cảnh va nội tại. Kích thước búp chè thay đổi theo giống, chế độ bón phân, các biện pháp kỹ thuật canh tác và điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu).
Búp chè là nguyên liệu chế biến ra các loại chè do vậy búp chè có quan hệ trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè. Có 2 loại búp đó là búp mù xòe và búp bình thường: - Búp bình thường là búp gồm 1 tôm và 2 hay 3 lá thật non, có khối lượng biến động từ 0,8 - 1,2 g đối với chè shan và 0,5 - 0,6 g đối với chè Trung Du. Búp chè càng non thì phẩm chất chè càng tốt. - Búp mù xòe là búp phát triển không bình thường, không có tôm mà chỉ có 2, 3 lá non, khối lượng chỉ bảng ½ búp bình thường, tỷ lệ búp mù xòe càng cao chất lượng chè càng kém.
Búp mù xòe có thể là do đặc tính sinh vật học của giống chè, do thời tiết không thích hợp hoặc do đất xấu hoặc kỹ thuật canh tác chưa hợp lý. Lá chè Lá chè mọc cách trên cành chè, mỗi đốt có một lá, lá chè thường thay đổi về hình dạng, màu sắc, kích thước tùy theo giống, tùy theo điều kiện tự nhiên và điều kiện canh tác. n 11 Lá chè là loại lá đơn, nguyên, có hệ gân lá rất rõ. Những gân chính của lá chè không mọc ra tận mép lá mà nối với nhau thành hình mạng.
Đầu lá, màu sắc lá, số đôi gân chính, hình dạng lá là các chỉ tiêu phân loại giống. Những giống chè có mặt lá gồ ghề, mỏng, màu xanh sáng thường có khả năng cho năng suất cao. Lá chè mọc trên cành chè theo các thế lá khác nhau: Thế lá rủ, thế lá ngang, thế lá xiên và thế lá úp. Thế lá ngang và thế lá rủ là đặc trưng của giống chè cho năng suất cao.
Một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây chè Sinh trưởng và phát triển là kết quả tổng hợp của nhiều chức năng sinh lý trong cây, là hai quá trình xen kẽ không thể tách rời, sinh trưởng là cơ sở cho phát triển và phát triển tạo điều kiện cho sinh trưởng. Theo Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương (2000) [39] thì, chè là cây trồng lâu năm có 2 chu kỳ phát triển: chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ.