Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐIỀU TRỊ BỆNH THẬN MẠN TÍNH GIAI ĐOẠN CUỐI BẰNG THẬN NHÂN TẠO 1. Khái niệm về bệnh thận mạn tính và suy thận mạn tính * Bệnh thận mạn tính (Chronic Kidney Disease – CKD): Theo KDIGO (Kidney Disease Improving Global Outcomes) của Hội thận học Hoa Kỳ - 2012 [65], bệnh thận được coi là mạn tính khi có 1 trong 2 tiêu chuẩn sau: (1) Tổn thương thận kéo dài ≥ 3 tháng dẫn đến sự thay đổi về cấu trúc và chức năng thận. Những rối loạn này có thể làm giảm hoặc không làm giảm mức lọc cầu thận (MLCT), được thể hiện ở các tổn thương về mô bệnh học, biến đổi về sinh hóa máu, nước tiểu hoặc hình thái của thận qua chẩn đoán hình ảnh.
(2) Mức lọc cầu thận (Glomerular Filtration Rate - GFR) giảm < 60 ml/phút/ 1.73 m2 liên tục trên 3 tháng, có thể có tổn thương cấu trúc thận đi kèm hoặc không. * Suy thận mạn tính (Chronic Renal Failure – CRF): là một Hội chứng lâm sàng và sinh hóa tiến triển mạn tính qua nhiều năm tháng, hậu quả của xơ hóa các nephron chức năng, gây giảm sút từ từ mức lọc cầu thận, thận không còn đủ khả năng duy trì tốt sự cân bằng của nội môi dẫn đến hàng loạt các biến loạn về lâm sàng và sinh hóa các cơ quan trong cơ thể. Phân chia giai đoạn bệnh thận mạn tính theo Hội thận học Hoa Kỳ năm 2012 MLCT Giai đoạn Đặc điểm (ml/phút/1,73 m2) Thận có tổn thương với MLCT bình thường 1 90 - 130 hoặc tăng 2 Chức năng thận giảm nhẹ 60 - 89 3a Chức năng thận giảm nhẹ đến trung bình 45 - 59 3b Chức năng thận giảm trung bình đến nặng 30 - 44 4 Chức năng thận giảm nặng 15 - 29 5 Chức năng thận giảm rất nặng < 15 4 Khái niệm bệnh thận mạn tính đã bao hàm cả suy thận mạn. Suy thận mạn tương ứng với bệnh thận mạn giai đoạn 3-5 (MLCT < 60 ml/phút).
* Bệnh thận giai đoạn cuối (End Stage Renal Disease - ESRD): hay bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối là giai đoạn nặng nhất của bệnh thận mạn. Suy thận mạn giai đoạn cuối tương ứng với bệnh thận mạn tính giai đoạn 5 (mức lọc cầu thận < 15 ml/phút hoặc bệnh nhân lọc máu) [65] 1. Thận nhân tạo chu kỳ và một số biến chứng tim mạch 1. Thận nhân tạo chu kỳ Điều trị bệnh nhân bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối bằng thận nhân tạo chu kỳ là một phương pháp điều trị phổ biến.
Tất cả các bệnh nhân có MLCT < 15 ml/phút đều có thể áp dụng phương pháp này. Thận nhân tạo chu kỳ (Lọc máu ngoài cơ thể) là quá trình lọc máu diễn ra ở ngoài cơ thể bằng máy lọc máu để lấy ra khỏi máu các sản phẩm cặn bã và nước dư thừa, dựa trên hai cơ chế cơ bản là khuếch tán và siêu lọc [24], [28]. Để tiến hành lọc máu ngoài cơ thể, người ta phải thiết lập hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể gồm đường dẫn máu ra khỏi cơ thể đến bộ lọc (đường động mạch), máu qua bộ lọc nhân tạo, đường dẫn máu từ bộ lọc trở lại cơ thể (đường tĩnh mạch)… Với các bệnh nhân lọc máu chu kỳ, mỗi tuần cần lọc 12 giờ, thường chia làm 3 buổi, mỗi buổi lọc 4 giờ, màng lọc high flux. Phương pháp lọc máu chỉ thay thế đư- ợc một phần chức năng đào thải các sản phẩm cặn của chuyển hoá, nước dư thừa và lập lại cân bằng điện giải, cân bằng kiềm toan, không thay thế được cho các chức năng nội tiết của thận.
Do đó vẫn phải kết hợp với phương pháp điều trị bảo tồn. Lọc máu bằng kỹ thuật thận nhân tạo được áp dụng rộng rãi trên các bệnh nhân suy thận mạn tính, loại trừ khi bệnh nhân có bệnh tim mạch nặng như: truỵ tim mạch, nhồi máu cơ tim, rối loạn nhịp tim nặng, suy tim nặng; đang trong tình trạng sốc; rối loạn đông máu - chảy máu… * Đánh giá hiệu quả lọc máu tốt qua lâm sàng: Sự phục hồi lại sức khoẻ tối đa cho các bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối điều trị lọc máu chu kỳ được coi là chất lượng lọc máu hay lọc máu tối ưu. Mục đích của lọc máu tối ưu là kéo dài tuổi thọ và mang lại chất lượng cuộc sống cho 5 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối gần giống với người bình thường. Có thể chia làm 2 nhóm tiêu chuẩn của lọc máu tối ưu: - Cải thiện chất lượng cuộc sống: đây được coi là tiêu chuẩn quan trọng nhất, tuy nhiên đây lại là vấn đề khó đánh giá chính xác.
Sự hồi phục lại cuộc sống gia đình, xã hội và nghề nghiệp cho bệnh nhân được coi là những tiêu chuẩn xác thực. - Tăng tuổi thọ của bệnh nhân - Không có triệu chứng lâm sàng của hội chứng Ure máu cao. - Huyết áp ổn định. - Không có triệu chứng thiếu máu.
- Khôi phục lại cân bằng nước điện giải và cân bằng kiềm toan. - Giữ được cân bằng phospho-canxi. - Bệnh nhân không bị suy dinh dưỡng. - Khống chế bệnh lý B2Microglobulin.
* Các thông số đánh giá lọc máu tốt qua các thông số [16], [17], [28], [45]: - Khái niệm Kt/V ure: Hay còn gọi là độ thanh thải từng phần Ure. Bệnh nhân lọc máu chu kỳ có nồng độ ure máu thay đổi theo qui luật: giảm nhanh trong buổi lọc máu sau đó nồng độ ure tăng dần giữa hai kỳ lọc. Có sự liên quan giữa nồng độ ure máu ở cuối buổi lọc (ký hiệu là Ct) và nồng độ Ure máu ở đầu buổi lọc (ký hiệu là Co) theo công thức: Ct = Co e(-Kt/V) Với K: là độ thanh thải Ure của màng lọc t: là thời gian lọc máu V: là thể tích khuyếch tán của Ure e = 2,718 Từ công thức trên người ta tính được Kt/V ure như sau: Kt/V = ln(Co/Ct) Đây là công thức có thể tính toán được Kt/V ure mà chỉ cần dựa vào Co và Ct, không cần biết t, K, V. Ngoài ra còn có nhiều công thức khác để tính Kt/V, trong đó có công thức của Daugirdas II là hay được sử dụng 45: 6 Kt/V = -ln((Ct/Co)- 0,008 x t) + (4-3,5x(Ct/Co))x(Uf/W) Với Uf: thể tích siêu lọc tính bằng lít (hoặc Kg) W: là trọng lượng bệnh nhân sau lọc tính bằng Kg.
Công thức này tính Kt/V dựa trên cơ sở của lượng Ure lấy ra khỏi cơ thể bằng cả cơ chế thẩm thấu qua màng lọc và cả bằng cơ chế siêu lọc. Cuộc lọc máu tốt khi Kt/V > 1,4, cuộc lọc máu đạt yêu cầu khi Kt/V > 1,2. + Tỷ lệ giảm Ure sau cuộc lọc - URR(Urea Reduction Ratio): Là tỉ lệ % ure máu giảm được sau buổi lọc máu so với ure máu trước buổi lọc. URR = (Co-Ct)/Co % URR cho phép ước lượng phần ure đã được lấy ra khỏi cơ thể trong một buổi lọc máu.
Chỉ số này được sử dụng rộng rãi ở các trung tâm lọc máu trên toàn thế giới để đánh giá hiệu quả của buổi lọc máu đối với bệnh nhân. Việc tính toán Kt/V và URR bằng cách sử dụng công thức toán phụ thuộc rất nhiều vào độ chính xác của kết quả nồng độ ure máu trước và sau lọc đặc biệt là nồng độ ure máu sau lọc thường thấp hơn nồng độ ure máu thực tế. URR đạt yêu cầu > 0,65, tức hiệu quả giảm nồng độ ure sau cuộc lọc > 65%. Một số biến chứng tim mạch ở bệnh nhân thận nhân tạo chu kỳ Suy thận mạn tính tiến triển kéo dài, gây nhiều biến chứng nặng về tim mạch, huyết học, hô hấp, tiêu hóa, chuyển hóa, rối loạn nước điện giải, thăng bằng kiềm toan, rối loạn chuyển hóa canxi phospho và nhiều biến chứng khác [5], [12], [25], [126], [128].
Trong số đó, biến chứng tim mạch ngày càng gia tăng và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tăng tỷ lệ bệnh phối hợp và tỷ lệ tử vong ở các bệnh nhân STM. Thận nhân tạo chu kỳ là phương pháp lọc sạch được các chất độc tích tụ do quá trình suy thận gây nên và siêu lọc rút nước ra khỏi cơ thể để bệnh nhân không quá tải thể tích. Quá trình lọc máu tốt sẽ nâng cao hiệu quả kiểm soát huyết áp, điều trị thiếu máu cũng như giảm tỷ lệ bệnh xương. Ở các bệnh nhân được lọc máu, tỷ lệ tử vong do bệnh lý tim mạch là 50% và 30% phải nhập viện.
Phát hiện và đánh giá đúng tình trạng tim mạch và các yếu tố nguy cơ có vai trò quan trọng trong phòng ngừa, điều trị và kéo dài cuộc sống cho người bệnh. Biến chứng trên hệ tim mạch rất đa dạng, bởi nhiều yếu tố 7 nguy cơ, gây tổn thương các cơ quan đích khác nhau bao gồm các biến chứng chính sau [43], [49], [54], [59]: * Tăng huyết áp: Tăng huyết áp (THA) gặp ở khoảng 80%- 90% các bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn cuối [22], trong đó thường gặp cả THA tâm thu và tâm trương, THA tâm thu đơn độc hoặc THA tâm thu nổi trội hơn THA tâm trương. Nhiều yếu tố góp phần gây THA trong suy thận mạn tính, bao gồm giữ muối và nước, tăng hoạt tính của hệ thống renin-angiotensin. Khả năng bài tiết muối của thận bị giảm sút khi có suy thận, mặc dù đã có sự thích nghi về chức năng bài tiết của ống thận.
THA thường xuất hiện trong tình trạng giữ muối nước mạn tính, hoặc do tăng lượng muối trong khẩu phần ăn. THA thường được cải thiện tốt sau lọc máu rút đi khối lượng dịch thừa. Sự tăng bài tiết các renin là do thiếu máu cận cầu thận, nhưng cũng có thể do sự mất điều hòa, tăng sản xuất renin do giữ muối nước. Các yếu tố khác cũng góp phần gây THA trong suy thận như hệ thần kinh phụ thuộc catecholamine, hormone chống bài niệu, rối loạn điều hòa hệ thống prostaglandin, các kinin, yếu tố lợi niệu tâm nhĩ.
THA ở bệnh nhân thận nhân tạo tính sẽ gây các biến chứng nặng ở tim, não, mắt… làm tăng tỷ lệ tử vong ở các bệnh nhân này. Việc kiểm soát dịch không tốt gây quá tải thể tích; thiếu máu nặng cũng như vôi hoá và canxi hoá mạch máu là những yếu tố gây THA khó kiểm soát hơn. * Bệnh lý cơ tim và bệnh mạch vành: Tổn thương cơ tim là hậu quả của cả hai gánh nặng: áp lực và thể tích. Tăng huyết áp là nguyên nhân quan trọng nhất, là yếu tố gây tăng áp lực lên thất trái và dẫn tới phì đại thất trái hướng tâm do phì đại các tế bào cơ tim.