CHƯƠNG 1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, CẢNH QUAN MÔI TRƯỜNG, QUÁ TRÌNH PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý, cảnh quan và môi trường 1. Giới hạn địa lý, điều kiện sinh thái vùng Đông Anh Huyện Đông Anh thời Pháp thuộc có tên là huyện Đông Khê, khi đó và trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ huyện Đông Anh thuộc tỉnh Phúc Yên (Vĩnh Phúc). Đến năm 1961, huyện Đông Anh trực thuộc Hà Nội, là một huyện ngoại thành, phía Bắc giáp với huyện Sóc Sơn, phía Nam giáp với sông Hồng, phía Tây giáp với tỉnh huyện Mê Linh, phía Đông giáp với huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đông Anh nằm ở vị trí cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, có tổng diện tích tự nhiên: 18.230 ha, có 23 xã và 1 thị trấn (Bản đồ 01, 02). Đặc điểm địa chất, địa hình Bản vẽ 01: Sơ đồ địa văn hóa – chính trị Châu thổ Sông Hồng [131] 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc điểm địa hình: Đông Anh nằm ở vị trí khá đặc biệt. Nếu phân chia tam giác châu sông Hồng thành 3 vùng với giới hạn một bên là dãy Ba Vì, một bên là dãy Tam Đảo và trục chính là sông Hồng: vùng cao (thượng), vùng giữa (trung), vùng thấp (hạ) ứng với 3 đỉnh tam giác châu thì Vĩnh Phú là vùng đỉnh xưa nhất của tam giác châu sông Hồng, ngã ba sông Hồng, sông Đuống gần Cổ Loa là đỉnh thứ hai và thị xã Hưng Yên là đỉnh thứ ba mà cạnh đáy nằm ven biển từ Yên Lập (Quảng Ninh) tới Nho Quan rìa Ninh Bình. Như vậy, Đông Anh gần như nằm trên trục chính của tam giác châu sông Hồng, là miền giáp ranh trung du – đồng bằng.
Do nằm trong vùng đất cao Tây Bắc nên Đông Anh có địa hình nghiêng từ Tây Bắc (Cổ Loa: cốt 11 – 12m) xuống Đông Nam (Liên Hà: cốt 5 – 6m) [6: tr. Theo chiều từ Bắc xuống Nam, có thể dễ dàng nhận thấy sự giảm độ cao đáng kể từ các dải đồi núi thấp ở khu vực Sóc Sơn với địa hình bóc mòn chiếm ưu thế xuống khu vực Phù Lỗ - Đông Anh được hình thành bởi hoạt động tích tụ của sông và biển trong kỷ Đệ tứ. Các dải đồi núi cao 200 – 300m tại Sóc Sơn với sườn dốc trên 20o, về phía Nam, chúng được chuyển tiếp nhanh xuống các đồi thoải ở độ cao 40 – 60m rồi đến bề mặt gò đồi lượn sóng với độ cao 12 – 20m. Điều đáng chú ý là dải gò đồi này đều có dạng vòng cung với bán kính cong rộng như ôm lấy vùng đồi núi Sóc Sơn.
Qua sông Cà Lồ dải gò đồi có độ cao tuyệt đối khoảng 8 – 15m, song mức độ phân cắt lại lớn hơn. Việc phân tích địa hình của các dải gò đồi này cho thấy sự khác biệt đáng kể theo chiều từ Bắc xuống Nam. Phía Bắc sông Cà Lồ, thuộc phạm vi khu vực sân bay Nội Bài và lân cận, các dải nổi cao phân bố rộng, xen kẽ là các dải trũng thoải có dạng vòng cung với chiều lồi quay về phía Nam, phù hợp với dạng vòng cung của sông Cà Lồ. Trong khi đó, ở phía Nam sông Cà Lồ, thuộc phạm vi Đông Anh – Cổ Loa, các dải gờ cao và các dải trũng giữa chúng thường được định hướng gần song song, và thường có dạng cánh cung, phù hợp với các dải cao, có phương chung là Tây Bắc – Đông Nam, chọc vào 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dải gờ cao phía Bắc.
Tại đây, các dải trũng có độ sâu lớn hơn, là sự phát triển kế thừa các rãnh trũng cắt vào các bậc thềm cổ. Tại phần rìa phía Nam, Đông Nam, nơi có sự chuyển tiếp của diện phân bố tam giác châu thứ nhất và thứ hai, các dải gò đồi bị phân, cắt mạnh hơn. Nhiều mạng xâm thực phân cắt tạo nên các dải trũng có dạng như các ngón tay lồng vào phần địa hình cao. Đó chính là hình thái địa hình đặc trưng cho khu vực Đông Anh.
Phía Nam – Đông gờ cao cuối cùng – dấu vết thế hệ tam giác châu thứ nhất này là bề mặt châu thổ thấp xen kẽ các ô trũng hoặc các gò cao ven lòng được hình thành do các thế hệ dòng sông dịch chuyển tạo thành. Theo chiều Đông - Tây, từ Việt Trì đến Cổ Loa vẫn thấy có sự xen kẽ giữa các dãy địa hình gò đồi cao 8 – 20m với địa hình đồng bằng cao dưới 8m. Phân tích hình thái các dải địa hình cao trên 8m, tương đương với thềm bậc I, có thể thấy sự phân dị khá độc đáo như sau: Tại khu vực Việt Trì, địa hình I có độ cao tuyệt đối đến 20m, bị phân cách đáng kể, tạo địa hình gò thoải đẳng thước. Từ đó về phía Đông – Đông Nam, các thành tạo này có sự phân dị, song được lặp lại có tính quy luật.
Các khu vực có địa hình phân cắt mạnh gồm các dải cao và trũng xen kẽ song song, trên bình đồ có dạng phân bố hình chữ S, thể hiện khá rõ của các khúc uốn lòng sông cổ, phân bố ở Yên Lạc và Cổ Loa. Trong khi đó, đoạn giữa hai khu vực này với hai bộ: phía Đông sông Phó Đáy và đoạn từ Mê Linh đến tây Cổ Loa, bậc địa hình cao 10 – 15m lại tương đối bằng phẳng, phương của các gờ cao và dải trũng thoải là Tây Bắc – Đông Nam hoặc các vĩ tuyến [65, tr. Các lỗ khoan thăm dò cho thấy đây là vùng địa hình đá gốc có bề mặt mấp mô kiểu đồi gò sót, nhưng do sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng đã làm cho địa hình bằng phẳng hơn. Ngoài các đồi gò, thềm cổ, Đông Anh còn là vùng đất bồi cao của sông, suối.
Như vậy, do vị trí nằm rìa đồng bằng, nên khu vực Đông Anh mang cả hai chế độ phù sa khác nhau: phù sa cổ và phù sa hiện đại. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hình 01: Mặt cắt địa chất kỷ Đệ Tứ theo tuyến khoan ở phía tây Cổ Loa [Nguồn:65] Bảng 01: Các tầng đất đá (địa tầng) ở huyện Đông Anh Stt Tên Phân bố ở huyện Đông Anh 1 Địa tầng trước Kainozoi >100m1 (>65 triệu năm cách ngày nay) 2 Địa tầng địa tam 50 – 70m - Hệ Neogen 3 - Địa tầng Đệ Tứ 60m Ngoài ra, Đông Anh là gạch nối giữa miền trung du và miền đồng bằng Bắc bộ nên tính chất giáp ranh này thể hiện rõ về mặt thổ nhưỡng từ một vùng đất Feralitic vàng đỏ phát triển trên nền phù sa cổ đến một vùng bãi và phù sa trên bãi ngoài đê, từ một vùng đất bạc màu đến một vùng cát pha, đến một vùng đất thịt. Đông Anh là gờ cuối cùng của một miền Bắc thềm cổ nhìn ra một vùng lõm võng của đồng bằng. Đặc điểm địa chất, địa mạo (Bản đồ 03): Dòng người đầu tiên đến Hà Nội vào thời kỳ mà các nhà địa chất gọi là hậu kỳ thế Cánh tân (Pleistocene) cách đây hàng vạn năm.
Khi đó, cảnh quan Đông Anh cổ là một vùng đồi gò 1 Vật liệu xây dựng thành Cổ Loa và những tảng đá cuội kết được ghép để tạo nên tượng Mỵ Châu đều được lấy về từ vùng đồi núi phía Bắc - Tây bắc Cổ Loa, đó là các đá trầm tích lục nguyên thuộc đại Trung sinh (Mesozoi). 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có nhiều rừng rậm, khô ráo, nhiều sông suối rất thuận tiện cho con người thời nguyên thủy thuộc văn hóa Sơn Vi từ vùng trung du tràn xuống vùng Đông Anh và dùng đá cuội ven sông, suối ghè đẽo làm công cụ săn bắt, hái lượm. Ở giai đoạn muộn hơn, Hà Nội hoàn toàn khô ráo, biển lui ra xa, đây là điều kiện để các nhóm cư dân cổ có thể di cư và dần trở thành những chủ nhân của châu thổ Bắc Bộ. Đến thời kỳ Toàn tân (Holocene) giữa và muộn (từ 6000 năm – 3000 năm cách ngày nay), các yếu tố địa chất tác động rất mạnh đến sự hình thành châu thổ Bắc Bộ, và ảnh hưởng đến kinh tế xã hội của cư dân cổ.
Theo các nhà địa chất, cảnh quan Đông Anh đã biến đổi qua nhiều nấc thang như sau: Khoảng 6000 - 5000 năm cách ngày nay, nước biển bao trùm toàn bộ vùng Hà Nội. Biển ăn sâu vào đất liền, Hà Nội trởi thành vịnh – vịnh Hà Nội. Đông Anh chắc chắn cũng không nằm ngoài tác động của sự kiện địa chất đó. Địa mạo cổ Hà Nội biến đổi theo quy luật chung của thế giới là có lúc là vùng đất bị nhấn chìm trong nước biển do biển tiến, lúc thì trở thành vùng lục địa bằng phẳng do biển lùi.
Các nhà nghiên cứu địa chất cho rằng biển tiến Flandrian khiến Hà Nội ngập trong biển cả và trở thành bồn trầm tích tương đối rộng lớn…. Đông Anh không thể có người cư trú vì còn là biển. Sau đợt biển tiến này là một đợt biển thoái – biển rút dần ra khỏi địa bàn Đông Anh, hoạt động của sông ngòi dần hình thành [65]. Vào đầu thời kỳ Holocene muộn (khoảng 4000 – 3000 năm cách ngày nay) là giai đoạn mà môi trường thời kỳ biển thoái khu vực Đông Anh không chịu tác động trực tiếp (vì biển đã lùi xa về phía Đông) mà xảy ra quá trình đầm lầy hóa.
Khu vực Đông Anh lúc đó được nâng cao so với mức xâm thực, là cở sở tạo điều kiện cho con người ở các vùng cao xuống sinh sống. Sự xuất hiện của con người được xem như tác nhân, hoạt động của con người tới tự nhiên cũng được xem như một quá trình tác động tới hoạt động địa chất. Điều này khiến châu thổ Bắc Bộ có lẽ là châu thổ duy nhất ở Đông Nam Á chưa hình thành xong một cách tự nhiên, đã được/bị con người chiếm lĩnh và bằng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các hành động nhân vi – nhân tác (đào kênh, khơi ngòi, đào ao, lấp trũng, đắp đê sông, đê biển…) đã chặn đứng quá trình hình thành tự nhiên của một tam giác châu và đã để lại nhiều vùng trũng [nguồn]. Chính thời kỳ này là lúc Đông Anh có những cuộc khai phá của cư dân thời đại Kim khí.
Khoảng 4000 năm trước, môi trường cảnh quan Hà Nội có phần ổn định hơn. Diện mạo Đông Anh cũng không có nhiều khác biệt lớn so với ngày nay.